b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ Nhặt(0.25 điểm); Liên hệ với bài ca dao "Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai" và nhận xét về thân phận người phụ nữ trước cách mạng. (0.25 điểm). 0.5
Phân tích nhân vật tràng trong vợ nhặt của kim lân Bài Làm >>> XEM THÊM : phân tích tình huống truyện độc đáo trong vợ nhặt >>> XEM THÊM : Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn vợ nhặt >>> XEM THÊM : phân tích truyện ngắn vợ nhặt Chỉ vậy thôi mà lại có một […]
Sơ đồ tư duy bài Vợ nhặt. Sơ đồ tư duy bài Vợ nhặt ghi chép, hệ thống hóa kiến thức bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chọn lọc thông tin, sắp xếp bố cục giúp các bạn lớp 12 nhanh chóng nắm vững được kiến thức. Vợ nhặt
Soạn bài Vợ nhặt - Kim Lân Ngắn gọn nhất Bám sát giáo án Ngữ Văn 12 năm học 2021 Soạn văn 12 Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận; Tuần 14; Đàn ghi ta của Lor-ca - Thanh Thảo; Bác ơi - Tố Hữu; Lịch sử, đặc điểm loại
- Năng lực tạo lập văn bản nghị luận văn học; D. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC BÀI HỌC (giáo án bài vợ nhặt) 1. KHỞI ĐỘNG ( 5 phút) 2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC (70 phút) 3.LUYỆN TẬP (giáo án bài vợ nhặt) ( 5 phút) 4.VẬN DỤNG (giáo án bài vợ nhặt) ( 5 phút) 5.
ildJh. Tài liệu hướng dẫn lập dàn ý phân tích truyện Vợ Nhặt, tham khảo chi tiết một số bài văn mẫu hay để mở rộng vốn từ và cách trình bày khi đi vào làm bài phân tích nội dung tác phẩm truyện ngắn Vợ nhặt của Kim dẫn lập dàn ý phân tích truyện ngắn Vợ nhặt1. Phân tích đề- Kiểu bài dạng bài phân tích tình huống truyện trong tác phẩm có định Vấn đề nghị luận tình huống nhặt vợ trong Vợ nhặt- Phạm vi dẫn chứng, tư liệu các căn cứ, hình ảnh, chi tiết, câu nói... thuộc phạm vi văn bản Vợ nhặt của Kim Xác lập luận điểm, luận cứ- Luận điểm 1 Ý nghĩa nhan đề "Vợ nhặt"- Luận điểm 2 Tình huống truyện- Luận điểm 3 Phân tích nhân vật Tràng+ Hoàn cảnh gia đình+ Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ+ Trên đường về+ Khi về đến nhà+ Sáng hôm sau khi tỉnh dậy- Luận điểm 4 Phân tích nhân vật người vợ nhặt+ Lai lịch+ Chân dung ngoại hình+ Những phẩm chất, tính cách- Luận điểm 5 Phân tích nhân vật bà cụ Tứ+ Giới thiệu nhân vật+ Diễn biến tâm trạng nhân vật3. Sơ đồ tư duySơ đồ tư duy phân tích truyện Vợ Nhặt4. Chi tiết dàn ý phân tích truyện Vợ nhặt của Kim Lâna Mở bài- Kim Lân là cây bút viết truyện ngắn chuyên nghiệp, ông tập trung viết về cảnh nông thôn, hình tượng người nông dân lao Vợ nhặt rút từ tập Con chó xấu xí, là truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân, miêu tả tình trạng thê thảm của họ trong nạn đói năm 1945, nhưng cũng ngợi ca bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của Thân bài* Ý nghĩa nhan đề "Vợ nhặt"- “Vợ nhặt” nhặt được vợ, thể hiện sự rẻ rúng của thân phận con người và phản ánh tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói.* Tình huống truyện- Tình huống Tràng – một người dân ngụ cư xấu xí bỗng dưng lại có vợ mà lại là nhặt được, theo về Đây là một tình huống độc đáo, bất ngờ với chính Tràng hoàn cảnh của Tràng khó mà lấy được vợ nhưng nghiễm nhiên có vợ theo không về, tự ngờ ngờ mình đã có vợ ư, với những người xung quanh thắc mắc bàn tán, với bà cụ Phân tích tình huống nhặt vợ trong truyện Vợ nhặt ta thấy tình huống xuyên suốt tác phẩm thật éo le hoàn cảnh gia đình và xã hội khung cảnh nạn đói không cho phép Tràng lấy vợ, cả hai vợ chồng đều là những người cùng cực, khó có thể trở thành chỗ dựa cho nhau.* Nhân vật Tràng- Hoàn cảnh gia đình dân ngụ cư bị khinh bỉ, cha mất sớm, mẹ già, nhà ở tồi tàn, cuộc sống bấp bênh, ..., bản thân xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn vập vạp, trí tuệ ngờ nghệch, vụng về, ...a. Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ- Lần gặp 1 lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng Lần gặp 2+ Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì. Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng.+ Khi người đàn bà quyết định theo mình về Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”. Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.+ Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ diễn tả sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy Trên đường về+ Vẻ mặt “có cái gì phơn phởn khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”, ... Đó là tâm trạng hạnh phúc, hãnh diện.+ Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng Khi về đến nhà+ Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà. Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.+ Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.+ Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ. Đây là biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa.+ Khi bà cụ Tứ về thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn Sáng hôm sau khi tỉnh dậy+ Tràng nhận thấy sự thay đổi kì lạ của ngôi nhà sân vườn, ang nước, quần áo, ..., Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.+ Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới. Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi Nhận xét Từ khi nhặt được vợ nhân vật đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.* Nhân vật người vợ nhặta. Lai lịch- Không có quê hương gia đình có thể thấy nạn đói năm 1945 đã khiến biết bao con người bị dứt khỏi quê hương, gia Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “vợ nhặt” thấy được sự rẻ rúng của con người trong cảnh Chân dung- Ngoại hình quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con Lần thứ nhất khi nghe câu hò vui của Tràng, thị đã vui vẻ giúp đỡ, đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động Lần thứ hai+ Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn, khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”.+ Khi nghe Tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ... cùng về”, thị đã theo về thật bởi trong cái đói khổ, đó là cơ hội để thị bấu víu lấy sự Nhận xét Cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người. Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với thị vì đó không phải là bản chất mà do cái đói xô Phẩm chất- Có khát vọng sống mãnh liệt+ Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.+ Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội Thị là người ý tứ và nết na+ Trên đường về, thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.+ Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.+ Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu.+ Sáng hôm sau, thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.+ Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không làm bà buồn.=> Cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con Thị còn là người có niềm tin vào tương lai kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hi vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho thể bạn quan tâm Hướng dẫn làm đề văn phân tích hình ảnh người vợ nhặt trong hai lần miêu tả về cách ăn khi được Tràng đãi bánh đúc và khi nhận bát “chè khoán” từ mẹ chồng* Nhân vật bà cụ Tứ- Giới thiệu nhân vật dáng đi lọng khọng, chậm chạp, run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, lẩm nhẩm tính toán theo thói quen người Bà ngạc nhiên trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch, ngạc nhiên trước sự xuất hiện của người đàn bà Bà hiểu ra “biết bao nhiêu cơ sự”, “mắt bà nhoàn đi” thương cho con trai phải lấy vợ nhặt, mà trong cảnh đói khát mới lấy được vợ, thương cho người đàn bà khốn khổ cùng đường mới phải lấy con trai Bà đối xử tốt với nàng dâu mới “Con ngồi đây... đỡ mỏi chân”, nói về tương lai với niềm lạc quan, bảo ban các con làm ăn,...=> Bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, chất phác, nhân Kết bài- Khái quát giá trị nghệ thuật xây dựng nhân vật đặt nhân vật vào tình huống éo le, độc đáo để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tích cách; miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ bình dị, gần Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc, phản ánh chân thực tình cảnh người nông dân trong nạn đói, mặt khác cũng phản ánh bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của họ.>>> Tham khảo thêm top 3 bài phân tích nhân vật Thị trong truyện ngắn Vợ nhặt hay do Đọc Tài Liệu tuyển chọnTrước khi triển khai dàn ý phân tích Vợ nhặt trên đây thành bài văn hoàn chỉnh, các em có thể đọc bài văn mẫu phân tích tác phẩm Vợ Nhặt sau đây để bổ sung thêm vốn từ ngữ cũng như cách trình bày cho bài viết của mình sắp văn mẫu phân tích truyện Vợ nhặtKim Lân, nhà văn chuyên viết truyện ngắn, với biệt tài viết về người nông dân. Người nông dân trong trang viết của Kim Lân dù nghèo khổ nhưng luôn sáng ngời những phẩm chất yêu đời, thật thà, chất phác, hóm hỉnh, tài hoa. Vợ nhặt là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông khi viết về người nông phẩm là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất nằm trong tập truyện “Con chó xấu xí” 1962. Tác phẩm này trước vốn là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” – được viết ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công. Tuy nhiên chỉ được viết dở dang và sau đó mất bản thảo. Đến năm 1954, khi hòa bình lập lại, nhân một số báo văn nghệ kỉ niệm cách mạng tháng Tám thành công, Kim Lân đã nhớ lại tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, dựa trên cốt truyện cũ viết lại thành truyện ngắn. Ngay từ khi ra đời, tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn trong giới sáng phẩm lấy bối cảnh là nạn đói năm Ất Dậu 1945, năm diễn ra nạn đói khủng khiếp, khiến hơn hai triệu đồng bào ta chết đói. Cái đói tràn lan, khủng khiếp diễn ra ở khắp nơi khiến con người không thể nào chống cự được, tất cả những yếu tố đó đã được Kim Lân tái hiện thành công trong tác phẩm của hết là màu sắc, ông đi khai thác màu xanh xám của da người, màu đen kịt của đàn quạ bay trên trời. Những màu sắc gợi lên sự chết chóc, ảm đạm, tàn lụi và héo úa. Bao quanh không gian đó là mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người, mùi đốt đống dấm khét lẹt. Kết hợp với tiếng quạ kêu từng hồi, hòa lẫn với tiếng khóc hờ từ những gia đình có người chết. Để làm rõ nét hơn, Kim Lân còn cho người đọc thấy hình ảnh sáng nào cũng có ba bốn thây người nằm chết còng queo bên đường. Tình cảnh vô cùng thảm thương, bất hạnh. Kim Lân nhìn nhận hiện thực bằng cái nhìn chân thực, sắc nét, không né tránh, phơi bày tất cả trên trang văn của mình, để người đọc thấy rõ cái khủng khiếp của nạn đói năm 1945. Nhưng giá trị thật sự của tác phẩm là ở chỗ từ trong bóng tối của cái đói, cái chết, tác giả tìm thấy ánh sáng của vẻ đẹp tâm hồn con khi vẽ nên khung hình chung của nạn đói, nhân vật đầu tiên trong thiên truyện xuất hiện, đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của tác phẩm – anh cu Tràng. Tràng vốn là dân ngụ cư, sống tha phương cầu thực, những người dân ngụ cư thường bị phân biệt, kì thị, sống ở rìa làng, chứ không được sống trong trung tâm của làng như những người khác. Không chỉ vậy, họ còn không được chia ruộng đất, không được tham gia bất cứ hoạt động sinh hoạt cộng đồng nào của làng xã. Anh cu Tràng bị đặt ra ngoài lề xã hội. Không dừng lại ở đó, gia đình Tràng còn rất nghèo, cha mất, chỉ con hai mẹ con nương tựa vào nhau, vì không được chia ruộng nên Tràng phải làm công việc bấp bênh để kiếm sống kéo xe bò như số phận càng trở nên trớ trêu hơn, khi gia cảnh nghèo nàn, là người ngụ cự, anh Tràng còn có ngoại hình hết sức xấu xí. Hai mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, còn hai bên quai hàm bạnh ra, khiến khuôn mặt càng to lớn hơn. Thân hình to lớn vập vạp, như một người khổng lồ. Tràng còn vừa đi vừa lảm nhảm những điều mình nghĩ và cứ thể ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch. Anh cu Tràng hội tụ đầy đủ vẻ đẹp hấp dẫn lũ trẻ con, còn với các cô gái anh hoàn toàn không có chút hấp dẫn nào, cả về ngoại hình lẫn gia cảnh, anh cu Tràng không có khả năng để lấy được trong một lần hát nghêu ngao trong lúc làm việc, anh cu Tràng đã lấy được vợ một cách đầy bất ngờ và ngỡ ngàng. Trong lúc làm việc mệt nhọc, dân ta thường có những câu hò để xua tan cái mệt, tăng động lực làm việc. Và anh cu Tràng cũng vậy, anh cũng hát, lời hát hết sức bông đùa “Muốn ăn cơm trắng với giò. Lại đây mà đẩy xe bò với anh”. Lời nói ấy đã khiến thị theo anh cu Tràng về làm vợ khi đưa cô vợ về nhà, Tràng rất chu đáo, mua cho vợ một chiếc thúng con mới, dẫn thị đi ăn một bữa thật no, mua những hai hào dầu để về thắp sáng trong nhà. Anh cu Tràng từ một kẻ thô kệch, lúc nào cũng nói chuyện một mình và cười hềnh hệch, hôm nay bỗng trở nên tâm lí và tinh tế lạ thường. Trên đường đi về Tràng vui sướng, hớn hở, miệng lúc nào cũng tủm tỉm cười. Khuôn mặt vừa hạnh phúc, rạng rỡ vừa vênh vênh tự đắc với chính mình. Cảnh sống cực khổ ê chề hàng ngày, Tràng đã quên hẳn, mà chỉ sống trong niềm vui, niềm hạnh phúc khi lấy được vợ. Bước chân đến nhà Tràng bỗng ngượng nghịu, xấu hổ, đứng tây ngây giữa nhà, chợt thấy sờ sợ nhưng lại vừa hạnh phúc sung sướng khi việc mình lấy vợ đã trở thành hiện thực. Điều Tràng mong ngóng nhất là đợi mẹ mình về nhà, để ra mắt nàng dâu mới. Lời giới thiệu thị với mẹ cũng rất trân trọng, để nàng dâu bớt đi phần ngượng ngùng, xấu hổ. Tràng đã thay đổi là một con người khác hẳn, tâm lí, nhạy bén và rất khéo léo trong cách ăn nói. Dường như hạnh phúc mới này đã đem đến sự thay đổi lớn trong tâm lí, suy nghĩ của anh cu phúc đã khơi dậy ý thức bổn phận của người đàn ông trong gia đình. Sáng hôm sau, Tràng tỉnh dậy muộn, cảm thấy trong người dễ chịu, êm ái, như người đi ra từ trong giấc mơ, anh ngỡ ngàng trước hạnh phúc mình đang nắm giữ. Tràng quan sát khung cảnh đang bày ra trước mắt mình, nhận thấy cảnh tượng thay đổi mới mẻ, khác lạ, nhà cửa không bừa bộn mà được dọn dẹp sạch sẽ, không khí gia đình trở nên ấm áp, vui vẻ, mẹ và vợ chung tay dọn dẹp, vun vén nhà cửa. Trành thấy thấm thía, cảm động và bỗng thấy yêu thương những người xung quanh, đồng thời nhận thấy trách nhiệm của bản thân, phải biết lo lắng cho gia đình, vợ con. Và sự ý thức đó đã được hiện thực hóa bằng hành động xăm xăm chạy ra sân, muốn chung tay tu sửa căn nhà. Tràng muốn chung tay để nghênh đón tương lai tươi sáng đến với gia đình. Đồng thời trong Tràng cũng bừng lên khát vọng đổi đời mãnh liệt, anh biết quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội mạn Thái Nguyên Bắc Giang không đóng thuế mà còn phá kho thóc Nhật cha cho người đói. Hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới lẩn khuất, ẩn hiện trong trí óc Tràng. Hình ảnh lá cờ chính là tín hiệu cho tương lai tươi sáng. Người đọc tin tưởng Tràng sẽ đi theo Việt Minh, theo cách dựng nhân vật Tràng, Kim Lân trước hết phơi bày cuộc sống khổ cực của nhân dân ta trong nạn đói 1945. Nhưng đằng sau đó còn là sự cảm thương cho số phận họ. Trân trọng, phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp của người dân Việt Nam trong tình cảnh khốn cùng tấm lòng nhân hậu, khát khao hạnh phúc, tin tưởng vào tương cạnh nhân vật Tràng, ta cũng không thể không nhắc đến nhân vật người vợ nhặt. Người vợ nhặt không có lai lịch rõ ràng, không rõ tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp và cũng không hề có tài sản gì khi lần đầu gặp Tràng. Có thể thấy rằng, trong nạn đói khủng khiếp, thân phận con người trở nên hết sức vô nghĩa. Lần thứ hai gặp Tràng, quần áo thị rác rưới, tả tơi như tổ đỉa, người gầy sọp đi vì đói, mặt lưỡi cày xám ngoét, ngực gày và lép, hai con mắt sâu trũng hoáy lại. Ngoại hình thị vô cùng thảm hại, do cái đói đã gây ra cho con người. Ngôn ngữ của thị cũng hết sức chao chát, chỏng lỏn “Điêu! Người thế mà điêu!”, “Ăn thật nhá”, “Hà, ngon. Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”; rồi thì “Ton ton chạy lại”, “liếc mắt cười tít”, “sầm sập chạy đến”, “xưng xỉa nói”, “cong cớn”, “cắm đầu ăn”, “ăn xong lấy đũa quẹt một cái”. Thị tỏ ra là con người hết sức vô duyên, dường như cái đói, cái chết có thể mài mòn nhân cách con người ta ghê gớm đến như đằng sau sự chỏng lỏn đến vô duyên ấy lại là một con người có khát vọng sống vô cùng mãnh liệt. Khi nhìn dưới góc độ nhân bản thì tất cả hành động, cử chỉ trơ trẽn, vô duyên của thị lại là biểu hiện của khát vọng sống mãnh liệt. Bên cạnh đó, thị còn hiện lên với vẻ đẹp nữ tính, trên đường về nhà, thị rón rén, e thẹn “Thị cắp cái thúng con, cái đầu hơi cúi xuống; cái nón rách tả tơi nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt”. Khi về đến nhà chồng, thấy quang cảnh nhà chồng thị nén tiếng thở dài, ngồi mớn ở mép giường và vô cùng lễ phép khi gặp mẹ chồng. Sáng hôm sau cô dậy sớm cùng mẹ dọn dẹp, vun vén nhà cửa. Nhân vật thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của tác cùng là nhân vật bà cụ Tứ, dù chỉ thấp thoáng trong tác phẩm, nhưng cũng có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Bà là người phụ nữ nghèo khổ, cơ cực dân ngụ cư tha phương cầu thực; chồng và con gái mất sớm. Cả đời lận đận, chỉ có tâm nguyện lớn nhất là lấy vợ cho con nhưng mãi không dành dụm được tiền, trong lúc nghèo đói đến cùng cực người con trai lại nhặt được vợ. Nhìn thấy con đưa vợ về, bà nín lặng cúi đầu, băn khoăn, nhưng vẫn rất vui mừng cho đôi trẻ. Bà dặn dò hai vợ chồng mới, nói những chuyện tương lai tốt đẹp, đem đến niềm tin, sự lạc quan cho chúng. Bà là một người mẹ nhân hậu và hết sức yêu thương con. Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của văn học hiện thực. Tác phẩm vừa cho thấy hiện thực cuộc sống nghèo khổ của nhân dân, đồng thời ánh lên giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm thể hiện sự trân trọng, nâng niu những ước mơ đổi đời của con người. Không chỉ vậy, tác phẩm cũng cho thấy nghệ thuật phân tích tâm lí và miêu tả bậc thầy của nhà văn Kim số đề văn hay không thể bỏ quaDàn ý phân tích tình huống nhặt vợ trong truyện Vợ nhặtDàn ý giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện Vợ nhặtVậy là Đọc Tài Liệu đã vừa giới thiệu tới các em tham khảo mẫu dàn ý phân tích truyện Vợ nhặt Kim Lân. Dựa trên cơ sở dàn ý này cùng với những kiến thức của mình về tác phẩm, hãy viết lại thành một bài văn hoàn chỉnh sử dụng văn phong của chính mình. Hi vọng bài viết sẽ phần nào cung cấp cho các em những nội dung hữu ích để có được một bài văn phân tích thật hay. Chúc các em học tốt môn Văn !
Tài liệu hướng dẫn phân tích Vợ nhặt do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn gồm nội dung gợi ý cách làm dàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu hay được sưu tầm theo nội dung phân tích truyện ngắn Vợ Nhặt của nhà văn Kim Hướng dẫn phân tích Vợ nhặt Kim LânĐề bài Phân tích tác phẩm truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Xác định yêu cầu đề bài- Yêu cầu về nội dung phân tích nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Vợ Phạm vi tư liệu, dẫn chứng các câu văn, từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Phương pháp lập luận chính Phân Luận điểm bài Vợ nhặtCó nhiều cách để phân tích tác phẩm này, ở đây chúng ta sẽ chọn cách phân tích theo từng nhân vật đặc điểm tính cách, diễn biến tâm lí,....- Luận điểm 1 Giải thích ý nghĩa nhan đề và tình huống Luận điểm 2 Vẻ đẹp của nhân vật Tràng- Luận điểm 3 Vẻ đẹp của nhân vật Thị- Luận điểm 4 Vẻ đẹp của nhân vật bà cụ Tứ3. Kiến thức cần có trước khi làm bàia Kiến thức cơ bản về tác giả Kim Lân- Kim Lân 1920 - 2007 tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ra trong một gia đình có hoàn cảnh khó khăn ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, Bắc Ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm rồi bắt đầu viết truyện ngắn vào năm 1941 và được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ Ông là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX, chuyên viết truyện ngắn về làng quê Việt Nam, về những sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn Nǎm 2001, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ Các tác phẩm tiêu biểu Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô Vịa, Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn, Nên vợ nên chồng, Con chó xấu xí...b Kiến thức chung về tác phẩm Vợ nhặt- Hoàn cảnh sáng tác Tác phẩm Vợ nhặt được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Truyện có tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư được in trong tập Con chó xấu Nội dung chính "Vợ nhặt" là một tác phẩm văn học viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945. Truyện đã khắc họa tình cảnh thê thảm của người nông dân Việt Nam trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào Đặc sắc nghệ thuật Tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, bút pháp miêu tả tâm lí, thế giới nội tâm nhân vật tinh tế, ngôn ngữ gần gũi, giản dị, mộc Lập dàn ý chi tiết phân tích Vợ nhặt1. Mở bài phân tích Vợ nhặt- Giới thiệu vài nét về Kim Lân Kim Lân 1920 - 2017 là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ XX với đề tài chủ yếu về nông thôn và người nông dân Việt Nam trước cách Giới thiệu khái quát về truyện ngắn Vợ nhặt Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc của Kim Lân viết về người nông dân trong nạn đói thê thảm năm 1945 với những bản chất tốt đẹp và sức sống kì Thân bài phân tích tác phẩm Vợ nhặta Luận điểm 1 Giải thích ý nghĩa nhan đề và tình huống Ý nghĩa nhan đề+ Vợ biểu tượng cho tổ ấm, hạnh phúc gia đình, mang ý nghĩa trọng đại và lớn lao+ Nhặt hành động rẻ rúng, tầm thường-> “Vợ nhặt” nghĩa là nhặt được vợ, thể hiện giá trị hiện thực của truyện sự rẻ rúng, bèo bọt của thân phận con người, tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói Tình huống truyện Trong bối cảnh thê thảm của nạn đói 1945, Tràng - một người xấu trai, nghèo khổ, sống ở xóm ngụ cư, tính ngốc ngếch, vì nghèo mà không lấy được vợ nhưng bỗng dưng “nhặt” được vợ theo về không.=> Tình huống vừa éo le, vừa độc đáo, bất ngờ nhưng cũng hết sức hợp lí, thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu Luận điểm 2 Vẻ đẹp của nhân vật Tràng+ Xuất thân con nhà nghèo, nhà có hai mẹ con, là dân xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe thuê.+ Ngoại hình xấu xí, “dáng người thô kệch, cái cười khềnh khệch”, “lưng Tràng như con gấu”, “quai hàm bạnh ra”+ Diễn biến tâm lí- Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ+ Lần gặp 1 Tràng hò đùa chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.+ Lần gặp 2Bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì -> hành động của người nông dân hiền lành tốt đàn bà quyết định theo mình về Lúc đầu, Tràng lo sợ “chợn nghĩ” nhưng rồi tình yêu thương, khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn tất cả, Tràng lại tặc lưỡi "chậc kệ”.Tràng đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ -> Tràng nghiêm túc, chu đáo trước quyết định lấy Trên đường về nhà+ “vẻ mặt có cái gì đó phớn phở”, “hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười nụ một mình”, “mắt sáng lên lấp lánh”, “cái mặt vênh lên tự đắc với mình” -> niềm hạnh phúc, vui sướng như càng nhân lên gấp bội.+ Tràng mua dầu về thắp để căn nhà trở nên sáng sủa.=> Tràng trở thành một con người hào phóng, quên đi hết những cay cực tăm tối trên Khi về đến nhà+ Xăm xăm bước vào dọn dẹp, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.+ Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.+ Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện. -> Biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa ngay cả trong hoàn cảnh nghèo đói+ Thưa chuyện với bà cụ Tứ một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp.+ Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn Sáng hôm sau+ thấy “êm ái lửng lơ như người trong cõi mơ đi ra”+ “cảm động, thấy yêu thương, gắn bó và thấy mình phải có trách nhiệm với cái gia đình này”-> Tràng là một người có tâm hồn thuần hậu, hiền lành, chất phác, tâm hồn lạc quan, yêu đời, tấm lòng nhân hậu, luôn khát khao về một cuộc sống hạnh phúc ngay cả trong hoàn cảnh nghèo khó.=> Từ khi nhặt được vợ, cuộc sống của Tràng đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái Luận điểm 3 Vẻ đẹp của nhân vật Thị+ Hoàn cảnh lai lịch không tên tuổi, quê quán hay họ hàng -> nạn nhân của nạn đói, phải rời khỏi quê hương, gia đình, sống trong cảnh rẻ rúng+ Ngoại hình, tính cách- “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt”, “áo quần rách như tổ đỉa”, “cái nón cà tàng che nửa khuôn mặt”, “cái ngực gầy tẹp lép nhô lên”- “chao chát”, “chỏng lỏn”, cong cớn, sưng sỉa, vô duyên- “ăn thật nhá…”, “sà xuống ăn một chặp bốn bát bánh đúc”, “ăn xong cầm dọc đũa quệt ngang miệng “Hà! Ngon!”-> Cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người.+ Diễn biến tâm lí- Gặp gỡ Tràng+ Khi nghe câu hò vui của Tràng, thị vui vẻ giúp đỡ -> sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.+ Khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”+ Khi nghe Tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ... cùng về”, thị đã theo về thật dù không biết gì về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ-> Cơ hội để thị bấu víu lấy sự sống trong cái đói Trên đường về+ Rón rén, e thẹn đi sau Tràng+ Đầu hơi cúi xuống-> Thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của Về đến nhà+ Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng-> Sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.+ Khi gặp bà cụ Tứ, ngoài câu chào, Thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt” -> sự lúng túng, ngượng Sáng hôm sau+ Thị dậy sớm quét tước nhà cửa+ Hiền hậu, đúng mực chứ không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” nữa.+ Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt thị tối lại” nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng -> sự nể nang, ý tứ trước mẹ chồng, không muốn làm bà buồn.+ kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang -> thắp lên hi vọng cho Tràng và cả gia Sau khi về làm vợ Tràng, thị đã có sự thay đổi tính cách khép nép, hiền hậu, ngoan ngoãn, thu vén cho gia đình, có niềm tin vào tương lai.=> Cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con Luận điểm 4 Vẻ đẹp tình người qua nhân vật bà cụ Tứ+ Hoàn cảnh một người mẹ nghèo khổ, chịu nhiều thiệt thòi, sống cùng con trai.+ Ngoại hình- “dáng người lọng khọng”, chậm chạp, run rẩy- “vừa đi vừa húng hắng ho vừa lẩm bẩm tính toán”.-> gợi nét cơ cực, lam lũ.+ Diễn biến tâm lí- Khi vừa về đến nhà+ ngạc nhiên trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch+ ngạc nhiên trước sự xuất hiện của người đàn bà Bà băn khoăn, tỏ ý không hiểu- Khi hiểu ra cơ sự+ “mắt bà nhoèn đi”+ Vừa đau đớn, tủi cực, vừa xót xa xen lẫn vui mừngXót xa vì thương con phải lấy "vợ nhặt" trong cảnh đói khát, lo lắng không biết liệu các con có lo nổi cho nhau hay không, thương người đàn bà xa lạ kia, phải đến bước như thế này thì người ta mới lấy con mừng vì con đã có vợ- Sáng hôm sau+ Bà dậy sớm cùng nàng dâu mới chăm bẵm vườn tược, chăm lo cho ngôi nhà của mình+ “gương mặt bủm beo, u ám ngày thường rạng rỡ hẳn lên”+ Trong bữa cơm, bà nói về tương lai với niềm lạc quan, bảo ban các con làm ăn,...-> Bà luôn nhen nhóm niềm tin vào tương lai cho các con.=> Bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, chất phác, nhân hậu, tình mẫu tử cao Kết bài phân tích Vợ nhặt* Khẳng định giá trị nội dung- Tình cảnh thê thảm của người nông dân Việt Nam trong nạn đói khủng khiếp năm Lên án tội ác của bọn thực dân, phát xít- Ca ngợi sức sống mãnh liệt, khao khát được yêu thương, được sống hạnh phúc với gia đình nhỏ và niềm tin tưởng vào một tương lai tươi sáng của người dân lao động nghèo.* Đặc sắc nghệ thuật- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, tự nhiên- Kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo- Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc- Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật- Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện gần gũi, tự nhiên- Kết cấu truyện đặc sắc* Cảm nhận của em về tác Sơ đồ tư duy phân tích truyện Vợ nhặtTham khảo đầy đủ hệ thống sơ đồ tư duy Vợ nhặt với các dạng bài khác nhau do Đọc tài liệu tổng hợp, biên soạnIII. Một số bài văn hay phân tích Vợ nhặt Kim Lân1. Bài phân tích Vợ nhặt chuyên sâuSinh thời, nhà văn Thạch Lam từng phát biểu "Công việc của nhà văn là phát hiện cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, để cho người đọc trông nhìn và thưởng thức". Và quả thực, nhà văn Kim Lân đã hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng ấy bằng đôi mắt biết đi sâu vào bóng tối mà gạn lọc một mầm sáng tràn đầy hi vọng vào ngày mai. Thông qua thiên truyện "Vợ nhặt", nhà văn đã khẳng định được sức sống của tình người ngay trong hoàn cảnh khốn khó, đặc biệt là qua đoạn trích "Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào... Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ".Mỗi khi nói về nhà văn Kim Lân, người ta thường nhớ về những tranh làng quê Việt Nam mộc mạc và gần gũi. Bởi lẽ trải qua một tuổi thơ khó nhọc cùng tuổi đời lấm láp những năm tháng gió sương, hơn ai hết, ông thấu tường hiểu tận nỗi khổ của người nông dân ngày ấy. Từ đó, ông dành trọn tấm lòng và tâm huyết của mình, quay ngòi bút hướng về với làng, với đất, với thuần hậu nguyên thủy nông thôn. Ông không viết thật nhiều, mỗi con chữ đọng lại trên trang văn đều đạt đến độ tinh hoa, chuẩn xác, tròn vẹn và quan trọng nhất là đi sâu vào trái tim bạn 1945, đất nước ta chịu thảm cảnh một cổ hai tròng khi Nhật đảo chính Pháp. Đời sống nhân dân mà phần lớn là người nông dân lam lũ vốn đã túng quẫn lại càng khó nhọc hơn. Từ sưu cao thuế nặng, bị đầu độc bởi thuốc phiện rồi chịu ách áp bức từ thể xác đến tinh thần, người nông dân Việt Nam rơi vào cảnh sống tăm tối đau thương mà đỉnh điểm của sự việc là khi phát xít Nhật tàn nhẫn bắt dân ta nhổ bỏ cây lúa, trồng vào đây chỉ để phục vụ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo kia. Như một mồi lửa làm bùng lên bó đuốc, hơn hai triệu người dân vô tội đã chết đau chết đói một cách thảm thương, làm dấy lên hồi chuông ghê rợn về những năm tháng mờ đục kinh hãi nhất trong lịch sử dân tộc. Bởi cái đói ngoài cướp đi sinh mạng của người khác còn có thứ ma lực tàn phá, băng hoại từ nhân phẩm đến nhân dạng con người hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, mặt trận Việt Minh đã tập hợp nhân dân lại, cùng với nhau phá kho thóc Nhật để cứu lấy người nghèo. Đó cũng chính là sự kiện đã làm chao đảo, xúc động bao nhà văn, nhà thơ đương thời, thôi thúc học cầm lên cây bút mà ghi lại những thước phim chân thực nhất của một thời tuy đã lùi xa nhưng sức ám ảnh thì vẫn còn mãi. Trong số đó không thể không kể đến thiên truyện "Xóm ngụ cư" của nhà văn Kim Lân được viết ngay sau khi cách mạng giành thắng lợi mà về sau, từ cốt truyện cũ, ông đã sáng tạo lại thành trang văn "Vợ nhặt" đầy ám ảnh, gai guốc...Dưới ngòi bút tài hoa sâu lắng và giàu lòng trắc ẩn của Kim Lân, "Vợ nhặt" là câu chuyện làng quê Việt Nam ngày đói quay quắt, xiêu vẹo. Cái đói không chỉ thể hiện qua từng hàng cây ngọn cỏ mà còn khiến con người trở nên rẻ rúng, hèn mạt như một anh Tràng lấy vợ ngay trong nạn đói bằng cách "nhặt", một cô thị không tên tuổi vứt bỏ phẩm giá mà theo không Tràng về làm dâu. Tuy nhiên hiển hiện sáng ngời lên trên tất cả vẫn là tình người, là sự vun đắp, yêu thương, đùm bọc mà họ đã có với nhau trong khốn khó, đau đầu thiên truyện, nhà văn Kim Lân đã vẽ lên những đường nét u ám thật rõ "Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào". Tinh tế sử dụng động từ "tràn", ông đã ngầm ẩn ý về một nạn đói kinh khủng như cơn lũ dữ sẵn sàng cuốn trôi mất bao sinh mạng yếu ớt nơi đây. Từ Nam Định, Thái Bình, người dân bồng bế, dắt díu nhau nhưng người nào người nấy đều "xanh xám như những bóng ma". Họ hầu như chẳng còn chút sinh khí ngoại trừ những hơi thở mong manh hay chút sức tàn đang cố bám víu mà trụ lại dương thế. Trong khi đó, không gian xung quanh lại đượm mùi tử khí của rác rưởi và mùi xác người gây gây bốc lên. Cái chết hiện ra rõ mồn một như một điều thật thường nhật, đến mức "người chết như ngả rạ" đầy tang tóc, kinh khủng, rợn người. Chỉ bằng vài câu văn dài ngắn đan xen, câu văn miêu tả người đang sống lại liền kề ngay với câu văn tả xác người chất chồng tựa nghĩa trang trong đêm vắng, Kim Lân đã khắc họa sâu sắc sự mong manh của lằn ranh sự sống và cái chết. Bởi nạn đói đã khiến cho quá nhiều người phải chết, thế nên sự sống giờ đây chỉ còn là sợi chỉ mỏng mà ai nấy đều ra sức giành giật cho bản thế mà ngay trong hoàn cảnh ngặt nghèo đến nghẹt thở ấy, vào một buổi chiều, Tràng - một người dân ngụ cư nghèo khổ, hiền lành - lại dẫn theo về nhà một người phụ nữ hay nói cách khác là anh chàng đã lấy vợ giữa cái đói khát u tối chưa biết rồi sẽ đi về đâu. Bởi trong nạn đói, miếng ăn trở nên vô cùng quý giá mà thậm chí với kẻ kéo xe bò thuê nghèo như Tràng, lo cho chính bản thân anh đã là một thách thức, huống gì là lấy thêm một cô vợ chỉ mới gặp hai lần về nhà cùng sống chung. Chính vì vậy mà ngay lập tức, sự xuất hiện của Tràng và Thị đã làm xáo trộn thái độ của những người dân xóm ngụ cư ấy "Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem", "họ lạ lắm... họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán" trước một đám cưới lạ lùng và đột nhiên, trái ngược với những sự lạ lẫm ấy, Tràng dường như hoàn toàn không quan tâm đến mọi thứ kể cả cái đói hay cái hiếu kì của mọi người xung quanh. Giờ đây, cả thế giới, cả tâm hồn của anh chàng chỉ tập trung dồn vào bóng dáng thị cùng với sự lâng lâng, mơn man khó tả của một kẻ lần đầu tiên hân hoan trong tình yêu. Chính sự xuất hiện của Thị trong cuộc đời đã thổi một luồng gió mới vào cuộc sống của anh Tràng ngày ngày chỉ biết kéo xe bò thuê đến nỗi niềm hạnh phúc ấy biểu lộ ngay trên gương mặt phớn phở ấy. Anh chàng còn "tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì như sáng lấp lánh".Nếu như Thị e dè, rụt rè, rón rén bước đi trong im lặng như muốn che đi gương mặt mình thì bao nhiêu cảm xúc vui sướng đều được Tràng bày tỏ gián tiếp trong từng cử chỉ nhỏ bé, hân thế là từ trên tấm nền xóm chợ nghèo heo hút, xác xơ, những dãy phố "úp súp, tối om", trong không gian quạ kêu thê thiết từng hồi còn người đói thì vẫn bước những bước lê thê như bóng ma ám ảnh, Tràng cùng với thị bước lên trên đói khát mà đến với nhau. Chính niềm tin, lòng thương người và cả tình yêu đã cho Tràng sức mạnh vượt qua nỗi sợ cái đói, vươn đến mong mỏi về một tổ ấm, một hạnh phúc bình dị, yêu thương. Đó cũng chính là lý do vì sao những người trong xóm từ ngạc nhiên bàn tán cho đến khi có gì đó vang dội lên trong thâm tâm, khiến họ hiểu ra và "gương mặt hốc hác u tối của họ bỗng rạng rỡ hẳn lên". Tràng và Thị đã bước qua ánh mắt và cuộc đời họ, như tưới mát những tâm hồn đã lâu ngày khô héo và cằn cỗi, như làn gió mới mẻ thổi vào những trái tim một dòng máu ấm áp, một niềm tin hy vọng tươi tắn dù chỉ là rất nhỏ bé mà thôi "Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát tăm tối ấy của họ".Sử dụng những hình ảnh chân thực, sinh động thậm chí đến ám ảnh, những câu văn dài ngắn gân guốc, mộc mạc, ngôn từ đậm chất dân dã, đơn sơ, nhà văn Kim Lân đã khắc họa thành công bức tranh làng quê Việt Nam ngày đói tiêu điều xơ xác. Tuy nhiên trên chính bức nền hiện thực đau thương ấy, giữa một tao đoạn ngặt nghèo, gian nan, sự túng quẫn, thiếu thốn đã trở thành chất xúc tác làm phơi bày, bộc lộ tính cách và phẩm hạnh của nhân vật. Từ đó ta thấy được một nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo cùng một khả năng miêu tả, đi sâu vào tâm lí nhân vật bậc kiến cho rằng "Dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn cùng, những người lao động vẫn yêu thương và khao khát hạnh phúc" dành cho đoạn trích trên là một nhận xét hoàn toàn sâu sát và đúng đắn. Dẫu rơi vào hoàn cảnh dân ngụ cư bị xa lánh, coi khinh, lại nghèo khổ, xấu xí thế nhưng Tràng vẫn luôn giữ gìn được lòng nhân hậu quý giá. Anh đã rộng lượng dang tay cưu mang, cứu vớt cuộc đời Thị, sẻ chia với Thị dù bản thân anh chẳng khấm khá gì hơn. Không những vậy, bên trong thẳm sâu nhân vật này còn là niềm mong mỏi, khát khao một tổ ấm gia đình mến thương. Có thể nói mưu cầu hạnh phúc gia đình chưa bao giờ là sai và đó cũng là một trong những ước muốn ban sơ nhất của con người. Với khát khao hóa thành niềm tin, thành hy vọng ấy, Tràng đã chứng minh được những phẩm chất đẹp, mơ ước chân thành và tình người vẫn ngời sáng trong tăm tối của đói kém, khó trích nói trên và toàn thiên truyện "Vợ nhặt" nói chung thực sự là một áng văn xuất sắc đã đi sâu vào lòng người đọc. Bởi mỗi khi gấp trang sách lại, dường như hai tiếng "tình người" vẫn còn vang vọng mãi để cho độc giả bao nỗi niềm trăn trở, suy tư. Ngòi bút sâu sắc, tài hoa của Kim Lân không chỉ khắc họa lại một trang sử Việt Nam ngày đói đến xơ xác mà hơn thế, ông đã tô đậm và tôn vinh truyền thống thương người như thể thương thân, tình đoàn kết và tinh thần tương đói khổ, họ vẫn hướng về phía niềm tin, hy vọng, trong khó nhọc họ vẫn ươm mầm cho khát khao, hạnh phúc và tổ ấm được đâm chồi vươn lên trong tia sáng le lói mà về sau là ánh mặt trời của Đảng, của bước chân cách mạng sau này. Từ đó, nhà văn Kim Lân đã bày tỏ niềm trân trọng những phẩm chất đẹp của họ, xót xa cho một thời u tối của dân tộc đồng thời để lại cho thế hệ mai sau thước phim lịch sử chân thực đến ghê rợn, bài học tình người, biết thương người, biết san sẻ biết cho đi. Cuộc sống vốn rất khắc nghiệt và khó khăn nhưng đừng bao giờ cho phép niềm tin lụi tắt. Bởi đó chính là sức mạnh, là vũ khí tinh thần lớn nhất của mỗi chúng 60 năm kể từ ngày xuất bản của tập truyện ngắn, Vợ nhặt vẫn vẹn nguyên sức sống của một tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu trong sự nghiệp cầm bút của cố nhà văn Kim Lân. Trải theo thời gian, câu chuyện về anh Tràng nhặt vợ ngày đói đã trở thành một biểu tượng điển hình trong văn học Việt, khẳng định tên tuổi Kim Lân trên văn đàn như một nhà văn với ngòi bút xuất chúng. Bởi nếu chỉ có một Nguyễn Tuân phong sương kiêu bạc, một Tô Hoài giản dị chân phương thì cũng chỉ có một Kim Lân ghi dấu với Vợ nhặt bất hủ trường Bài văn phân tích Vợ Nhặt đạt điểm 10 thi đại học năm 2005Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân - một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với "thuần hậu phong thủy" ấy. Ngay sau cách mạng, ông đã bắt tay vào viết ngay tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Khi hòa bình lập lại 1954, nỗi trăn trở tiếp tục thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện cuối cùng, truyện ngắn Vợ nhặt đã ra đời. Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lý thật bất một lần phát biểu, Kim Lân từng nói "Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hy vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người".Và điểm sáng mà nhà văn muốn đem vào tác phẩm chính là ở chỗ đó. Đó chính là tình người và niềm hy vọng về cuộc sống, về tương lai của những con người đang kề cận với cái chết. Bằng cách dẫn truyện, xây dựng lên tình huống "nhặt vợ" tài tình kết hợp với khả năng phân tích diễn biến tâm lý nhân vật thật tinh tế và sử dụng thành công ngôn ngữ nông dân, ngôn ngữ dung dị, đời thường nhưng có sự chọn lọc kỹ lưỡng ấy, nhà văn đã tái hiện lại trước mắt ta một không gian năm đói thật thảm hại, thê đó ngổn ngang những kẻ sống người chết, những bóng ma vật vờ, lặng lẽ, giữa tiếng hờ khóc và tiếng gào thét kinh hoàng của đám quạ. Bằng tấm lòng đôn hậu chân thành nhà văn đã gửi gắm vào trong không gian tối đen như mực ấy những mầm sống đang cố vươn đến tương lai, những tình cảm chân thành, yêu thương bình dị nhưng rất đỗi cao quý ấy và nhà văn đã để những số phận như anh Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ được thăng hoa trước ngọn cờ đỏ phấp phới cùng đám người đói phá kho thóc Nhật ở cuối thiên thể nói rằng, Kim Lân đã thật xuất sắc khi dựng lên tình huống Nhặt vợ của anh cu Tràng. Tình huống ấy là cánh cửa khép mở để nhân vật bộc lộ nét đẹp trong tâm hồn mình. Dường như trong đói khổ người ta dễ đối xử tàn nhẫn với nhau khi miếng ăn của một người chưa đủ thì làm sao có thể đèo bồng thêm người này người tình huống ấy, người dễ cấu xé nhau, dễ ích kỉ hơn là vị tha và người ta rất dễ đối xử tàn nhẫn, làm cho nhau đau khổ. Nhưng nhà văn Kim Lân lại khám phá ra một điều ngược lại như ở nhân vật anh cu Tràng, người vợ nhặt và bà cụ ta từng kinh hãi trước "xác người chết đói ngập đầy đường", "người lớn xanh xám như những bóng ma", trước "không khí vẩn lên mùi hôi của rác rưởi và mùi ngây của xác người", từng ớn lạnh trước "tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết" ấy nhưng lạ thay chúng ta thật không thể cầm lòng xúc động trước nghĩa cử cao đẹp mà bình thường, dung dị ấy của Tràng, bà cụ Tứ và cả người vợ của Tràng nữa. Một anh thanh niên của cái xóm cư ngụ ấy như Tràng, một con người - một thân xác vạm vỡ, lực lưỡng mà dường như ngờ nghệch, thô kệch và xấu xí ấy lại chứa đựng biết bao nghĩa tình cao đẹp."Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào", vậy mà Tràng vẫn đèo bồng thêm một cô vợ trong khi anh không biết cuộc đời phía trước mình ra sao. Tràng đã thực liều lĩnh. Và ngay cô vợ Tràng cũng thế. Hai cái liều ấy gặp nhau kết tụ lại thành một gia đình. Điều ấy thật có lý và xót thương vô dường như lúc ấy, trong con người của Tràng kia đã bật lên niềm sống, một khát vọng yêu thương chân thành. Và dường như hắn đang ngầm chứa đựng một ao ước thiết thực về sự đầm ấm của tình cảm vợ chồng, của hạnh phúc lứa động của Tràng dù vô tình, không có chủ đích, chỉ tầm phơ tầm phào cho vui nhưng điều ấy cũng hé mở cho ta thấy tình cảm của một con người, biết yêu thương, biết cưu mang, đùm bọc những người đồng cảnh ngộ. Như một lẽ đương nhiên, Tràng đã rất ngỡ ngàng, hắn đã "sờ sợ", "ngờ ngợ", "ngỡ ngàng" như không phải nhưng chính tình cảm vợ chồng ấy lại củng cố và nhen nhóm ngọn lửa yêu thương và sống có trách nhiệm với gia trình trong nghĩa vợ chồng ấm áp ấy dường như làm cho Tràng thay đổi hẳn tâm tính. Từ một anh chàng ngờ nghệch, thô lỗ, cộc cằn, Tràng đã sớm trở thành một người chồng thật sự khi đón nhận Hạnh phúc của gia đình. Hạnh phúc ấy như một cái gì đó cứ "ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ sống lưng".Tình yêu, hạnh phúc ấy khiến "Trong một lúc Tràng dường như quên đi tất cả, quên cả đói rét đang đeo đuổi, quên cả những tháng ngày đã qua". Và Tràng đã ước ao hạnh phúc. Mạch sống của một người đàn ông trong Tràng đã trở dậy. Hắn có những thay đổi thật bất ngờ nhưng rất hợp lôgich. Những thay đổi ấy không gì khác ngoài tâm hồn đôn hậu, chất phác và giàu tình yêu thương hay sao?Trong con người của Tràng khi trở dậy sau đó khi chào đón hạnh phúc ấy thật khác lạ. Tràng không là anh Tràng ngày trước nữa mà giờ đây đã là một người con có hiếu, một người chồng đầy trách nhiệm dù chỉ trong ý nghĩ thấy mẹ chồng nàng dâu quét tước nhà cửa, hắn đã bừng bừng thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc, "Hắn thấy hắn yêu thương căn nhà của hắn đến lạ lùng", "Hắn thấy mình có trách nhiệm hơn với vợ con sau này". Hắn cũng xăm xăm ra sân dọn dẹp nhà động, cử chỉ ấy ở Tràng đâu chỉ câu chuyện bình thường mà đó là sự biến chuyển lớn. Chính tình yêu của người vợ, tình mẹ con hòa thuận ấy đã nhen nhóm trong hắn ước vọng về hạnh phúc, niềm tin vào cuộc sống sẽ đổi thay khi hắn nghĩ đến đám người đói và lá cờ đỏ bay phất phới. Rồi số phận, cuộc đời của hắn, của vợ hắn và cả người mẹ của hắn nữa sẽ thay đổi. Hắn tin đói ấy không thể ngăn cản được ánh sáng của tình người. Đêm tối ấy rồi sẽ qua đi để đón chờ ánh sáng của cuộc sống tự do đang ở phía trước, trước sức mạnh của cách mạng. Một lần nữa, Kim Lân không ngần ngại gieo rắc hạnh phúc, niềm tin ấy trong các nhân vật của mình. Người vợ nhặt không phải ngẫu nhiên xuất hiện trong thiên xuất hiện đã làm thay đổi cuộc sống của xóm ngụ cư nghèo nàn, tăm tối ấy, đã làm cho những khuôn mặt hốc hác, u tối của mọi người rạng rỡ hẳn lên, từ con người chao chát chỏng lỏn đến cô vợ hiền thục, đảm đang là một quá trình biến đổi. Điều gì đã làm thị biến đổi như chính là tình người, là tình thương yêu, thị tuy theo không Tràng về chỉ qua bốn bát bánh đúc và hai câu nói tầm phơ tầm phào của Tràng nhưng chúng ta không khinh miệt thị. Nếu có trách thì chỉ có thể hướng vào xã hội thực dân phong kiến kia bóp nghẹt đời sống con người, thị xuất hiện không tên tuổi, quê quán, trong tư thế "vân vê tà áo dài đã rách bợt", điệu bộ trông thật thảm hại nhưng chính con người lại gieo mầm sống cho Tràng, làm biến đổi tất cả, từ không khí xóm ngụ cư đến không khí gia đã đem đến một luồng sinh khí mới, nguồn sinh khí ấy chỉ có được khi trong con người thị dung chứa một niềm tin, một ước vọng cao cả vào sự sống, vào tương lai, thị được miêu tả khá ít song đó lại là nhân vật không thể thiếu trong tác phẩm. Thiếu thị Tràng vẫn chỉ là anh Tràng của ngày xưa, bà cụ Tứ vẫn lặng trầm trong đau khổ, cùng Lân cũng thật thành công khi xây dựng nhân vật ấy để góp thêm tiếng lòng ca ngợi sức sống của vẻ đẹp, tình người, niềm tin ở cuộc đời phía trước trong những con người đói khổ ấy. Và thật ngạc nhiên, khó nói về ước vọng ở tương lai, niềm tin vào hạnh phúc, vào cuộc đời người ta dễ nghĩ đến tuổi trẻ như Tràng và người vợ nhưng Kim Lân lại khám phá ra một nét độc đáo vô cùng tình cảm, ước vọng ở cuộc đời ấy lại được tập trung miêu tả khá kỹ ở nhân vật bà cụ nhân vật này, Kim Lân tỏ rõ ngòi bút vững vàng, già dặn của mình trong bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật. Bà cụ Tứ đến giữa câu chuyện mới xuất hiện nhưng nếu thiếu đi nhân vật này, tác phẩm sẽ không có chiều sâu nhân bản. Đặt nhân vật bà cụ Tứ vào trong tác phẩm, Kim Lân đã cho chúng ta thấy rõ hơn ánh sáng của tình người trong nạn giờ cũng thế, các nhà văn muốn nhân vật nổi bật, có cá tính của mình thường đặt nhân vật vào một tình thế thật căng thẳng. Ở đó dĩ nhiên phải có sự đấu tranh không ngừng không những giữa các nhân vật mà độc đáo hơn là ngay chính trong nội tâm của nhân vật ấy. Bà cụ Tứ là một điển hình. Việc Tràng lấy vợ đã gây một chấn động lớn trong tâm thức người mẹ nghèo vốn thương con ngạc nhiên ngỡ ngàng trước sự xuất hiện của một người đàn bà trong nhà mình mà lâu nay và có lẽ chưa bao giờ bà nghĩ đến. Hết ngỡ ngàng, ngạc nhiên và cụ đã "cúi đầu nín lặng". Cử chỉ hành động ấy chất chứa bao tâm trạng. Đó là sự đan xen lẫn lộn giữa nỗi tủi cực, nỗi lo và niềm vui nỗi buồn cứ hòa lẫn vào nhau khiến bà thật căng khi thấu hiểu mọi điều bà nhìn cô con dâu đang "vân vê tà áo đã rách bợt" mà "lòng đầy thương xót". Bà thiết nghĩ "Người ta có gặp bước khó khăn này, người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ". Và thật xúc động, bà cụ đã nói, chỉ một câu thôi nhưng sâu xa và có ý nghĩa vô cùng"Thôi, chúng mày phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng". Đói khổ đang vây lấy gia đình bà, cuộc sống của bà sẽ ra sao khi mình đang ngấp nghé trước vực thẳm của cái chết. Nhưng trong tâm thức người mẹ nghèo ấy, đói khổ không phải là vật cản lớn rét thật nhưng trong lòng bà cụ vẫn sáng lên tấm lòng yêu thương chân thành. Bà thương con, thương dâu và thương cho chính bản thân mình. Bà cụ Tứ từ những nỗi lo, nỗi tủi cực về gia cảnh vẫn không bùng cháy lên ngọn lửa của tình đã giang tay đón nhận đứa con dâu, lòng đầy thương xót, trong tủi cực nhưng vẫn ngầm chứa một sức sống thật mãnh liệt. Chính ở người mẹ nghèo khổ ấy, ngọn lửa của tình người, tình thương yêu nhân loại ấy bùng cháy mạnh mẽ nhất. Trong bóng tối của đói nghèo đang hùng hổ vây quanh, bà lão vẫn gieo vào lòng những con niềm tin về cuộc nhắc đến việc Tràng nên chuẩn bị một cái phên nuôi gà, rồi việc sinh con đẻ cái, bà lão nói toàn chuyện vui trong bữa cơm ngày đói thật thảm hại ấy. Bà đã đón nhận hạnh phúc của các con để tự sưởi ấm lòng mình. Đặc biệt, chi tiết nồi chè cám ở cuối thiên truyện thể hiện khá rõ ánh sáng của tình người, nồi chè cám nghẹn ứ cổ và đắng chát ấy lại là món quà của một tấm lòng đôn hậu chất chứa yêu lão "lễ mễ" bưng nồi chè và vui vẻ giới thiệu "Chè khoán đây - ngon đáo để cơ". Ở đây nụ cười đã xen lẫn nước mắt. Bữa cơm gia đình ngày đói ở cuối thiên truyện không khỏi làm chạnh lòng chúng ta, một nỗi xót thương cay đắng cho số phận của họ song cũng dung chứa một sự cảm phục lớn ở những con người bình thường và đáng quý Lân bằng nghệ thuật viết văn già dặn, vững vàng đã đem đến một chủ đề mới trong đề tài về nạn đói. Nhà văn đã khẳng định ánh sáng của tình người thật thành công ở ba nhân vật. Điều làm chúng ta trân trọng nhất chính là vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống một cách mạnh mẽ nhất ở những thân phận nghèo đói, thảm hại nhân vật Tràng, vợ Tràng và cụ Tứ cùng những tình cảm, lẽ sống cao đẹp của họ chính là những điểm sáng mà Kim Lân từng trăn trở trong thời gian dài để thể hiện sao cho độc đáo một đề tài không mới. Tác phẩm đã thể hiện thành công nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, khả năng dựng truyện và dẫn truyện của Kim Lân - một nhà văn được đánh giá là viết ít, nhưng tác phẩm nào cũng có giá trị là vì lẽ đó.“Cái đẹp cứu vớt con người” Đôtôiepki. Vâng, Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kỳ diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm, ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời Phân tích Vợ nhặt bài văn đạt điểm 9Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam có bí quyết viết chân chất, mộc mạc và các hình ảnh nhân vật tiêu biểu cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái tạo thành công xã hội nghèo khổ, khốn cùng, bế tắc của người nông dân. Bằng văn pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cộng giai đoạn ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân xây dựng thương hiệu trong quá trình quốc gia đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống dân chúng bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, ”người chết như nga ra, không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm ruộng không gặp ba bốn mẫu thây nằm còng queo bên tuyến phố. Không khí vấn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Quang cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn đạt được chiếc đói đang hoành hành, đời sống quần chúng thê từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những điều khốn khổ, bần hàn nhất. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút khiến cho nên cuộc thế của từng nhân đầu tác phẩm, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa mủm mỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…”. Chỉ sở hữu vài chi tiết ấy, người đọc cũng đã tưởng tượng được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mồng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám con trẻ không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Quang cảnh buồn thiu, đầy sợ hãi bao phủ lên xóm nghèo. Trong khung cảnh chiều tà, nghĩ suy của Tràng được tái tạo “hắn bước đi từng bước mỏi mệt, chiếc ao nâu tàng vắt sang 1 bên cánh tay. Tuồng như các lo lắng, cực nhọc đè nặng lên dòng lưng gấu của hắn”.Với vài chi tiết điển hình, Kim Lân đã vé lên trước mặt người đọc hình ảnh người dân cày nghèo đói, tả tơi, bộn bề lo lâu đến cơ cực. Tác giả đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, mới lạ, làm thay đổi thế cục của một con người. Tình huống Tràng “nhặt” được vợ. Là “nhặt” được chứ chẳng hề lấy được. Người đọc trông thấy sự thê thảm, bước trục đường cộng và đầy éo léo của con người trong xã hội bấy anh vợ anh cu Tràng dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy khiếp sợ “ thị cắp loại thúng con, đầu hơi cúi xuống, chiếc nón rách tàng nghiêng nghiêng che mệnh chung đi nửa mặt. Thị với vẻ rén,e thẹn”. Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cơ cực đúng là một đôi trời cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, Kim Lân đã vun đắp nên khung cảnh quạnh hiu, ảm đảm của xóm nghèo “từng trận gió trong khoảng cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp sụp, tối mịt, không nhà nào mang ánh đèn, lửa. Dưới gốc đa, gốc gạo xù xì bóng các người đói dật dờ di chuyển lặng thầm như những bóng ma. Tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Không còn gì thê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy. Mọi thứ tuồng như bị mẫu đói, cài nghèo đè nén đếm chìm nghỉm. Bằng ngòi bút tả chân sinh động, Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc đa dạng đau xót, đắng cay cho các phận nghèo lận đáng chú ý chính là cách thức các người láng giềng hỏi thăm Tràng về người đàn bà đi bên cạnh tràng. Thực ra thấy lạ nên người ta mới hỏi, thì cũng hiểu ra, có nhẽ là vợ Tràng, “nhìn chị ta thèn thẹn hay đáo để”. Người nữ giới bắt không còn ngoa ngoắt, đanh đá nữa mà phát triển thành thẹn hậu sự lúc quyết định theo Tràng về làm vợ. Làm vợ một cách bất thần, giữa cảnh đói như ngả rạ. Có lẽ cái đói nghèo đã đẩy hai con người đến có nhau, chẳng hề ái tình nhưng là tình thương. Hẳn người đọc sẽ thông cảm và xót thương cho các mảnh đời dật dờ nơi xóm cư trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài giỏi và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng 1 người mẹ bao dung và nhân từ. Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người nữ giới ở trong…” Sự băn khoăn lo âu của bà cụ bắt đầu hiển lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín im, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ đấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong khi khiến ăn nên nổi, còn mình…” các suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái làm cho loại khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ đã chấp nhận người “vợ nhặt” của con trai. Cảnh huống làm người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc tới tác phẩm này đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu dầu tiên. Hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của mẫu nghèo đói đến cơ cực trong một gia đình “không còn gì trị giá nữa”. Bà cụ Tứ hôm nay thay đổi tâm trạng, toàn kể các chuyện vui trong nhà, vì bà muốn mang lại không khí vui tươi hơn giữa mẫu nghèo. Hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên bình dị, đầy chua xót và nước mắt của người mẹ nghèo. Người nào cũng muốn sở hữu một bữa cơm đón dâu với mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương bà sở hữu thể đem đến cho là một chi tiết hết sức đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân làm cho người đọc nhớ mãi. Ngoài ra hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện của cuối truyện ngắn đã đem đến chút niềm tin và hi vẳng về một tương lai tươi sáng hơn. Bằng ngòi bút mô tả trung thực, sinh động, cách thức khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo, độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua ấy tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người có người luôn bạt Bài văn phân tích Vợ nhặt Mẫu số 1Kim Lân một trong những nhà văn viết truyện ngắn từ năm 1941. Sáng tác của ông tập trung phản ánh bức tranh của nông thôn Việt Nam và hình tượng người nông dân. Dưới ngòi bút tài hoa của Kim Lân, bức tranh hiện thực của nông thôn Việt Nam cũng như nỗi niềm, cuộc sống, cảnh ngộ và khát vọng của người nông dân được thể hiện chân thực và sinh động. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm thành công của Kim Lân với cốt truyện độc đáo cùng lối dẫn chuyện hóm hỉnh hấp dẫn người cảm hứng từ nạn đói năm 1945, nhà văn Kim Lân đã tái hiện lại hiện thực bức tranh ngày đói ám ảnh trong từng câu chữ, từng trang văn của ông. Bằng ngòi bút tả thực kết hợp Kim Lân đã tái hiện cảnh vật xác xơ heo hút của ngã tư xóm chợ về chiều, rồi “hai bên dãy phố, úp sụp, tối om”, "cái nhà vắng teo đứng rúm ró một mảnh vườn mọc lổn nhổn”… Từng ấy thôi ngòi bút của ông đã tô đậm lên bức tranh u tối, với cảnh sống đói nghèo của nông thôn Bắc Bộ những năm cả hiện lên đều còm cõi, xác xơ, rách rưới. Ở đó không chỉ có cảnh vật mà con người cũng hiện lên lụi tàn cùng cái đói, cái nghèo. Cái chết cũng được ghi lại trong âm thanh thê thiết, tạo nên sự ghê sợ, rợn người. Ở đó như đang dồn đuổi sự sống của con người đến đường cùng. Âm thanh của tiếng quạ trên mấy cây gạo, của tiếng hờn khóc tỉ tê và cả tiếng trống thúc thuế mỗi lúc một dồn dập hơn. Chỉ vậy thôi mà nhà văn như tô lại hiện thực tố cáo sự tàn ác của bọn phát xít, đế quốc thực dân với những chính sách vô cùng hà khắc, rẻ rúng mạng sống của con cái không gian ấy, hình ảnh con người được khắc họa lại khiến người đọc không khỏi bàng hoàng về cái đói năm 1945 ấy. Sử dụng những câu văn dài nhiều vế, kết hợp với biện pháp liệt kê Kim Lân đặc tả hình ảnh người đó “bồng bế, dắt díu nhau như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ…”. Những người sống đang lay lắt, dật dờ, sống một cuộc sống không phải cuộc sống của con người. Người chết thì “như ngả rạ” và cái chết trở thành nỗi ám ảnh, đau đớn và nhức nhối của biết bao con người. Có lẽ, chính vì thế mà nó thôi thúc Kim Lân phản ánh lại bằng những trang văn đầy ám ảnh như từ bức tranh đói khổ ấy, câu chuyện mà Kim Lân muốn kể với người đọc là câu chuyện đầy đủ bi hài. Ở đó là câu chuyện của nhân vật Tràng “nhặt” được cô vợ trong những ngày đói khổ như thế. Kim Lân đã rất tài tình trong việc khắc họa từng tâm trạng của nhân vật chính xoay quanh cốt truyện độc đáo. Sự thay đổi tâm lý rất phù hợp từ lúc gặp Thị vợ Tràng, trên đường đưa Thị về nhà, về đến nhà. Đặc biệt là tâm trạng sáng ngày hôm sau và tâm trạng trong bữa cơm đều được Kim Lân tái hiện lại chân những ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, mộc mạc nhà văn đã cho người đọc thấy rõ nhất được hiện thực cuộc sống thê thảm qua câu chuyện “cưới vợ” của Tràng trong ngày đói. Cũng từ cái hiện thực thê thảm đấy mà qua đó, người đọc vẫn nhìn nhận được niềm tin của nhà văn. Ông tin tưởng vào tương lai dù có thế nào, dù họ có bị đẩy vào bước đường cùng thì vẫn le lói sự sống bằng tình yêu thương sự đùm bọc lẫn nhau giữa con người. Đồng thời cũng cho thấy được khát khao hạnh phúc gia đình mãnh liệt của người dân lao hình ảnh nhân vật Tràng thì nhân vật Thị cũng hiện lên với bản lí lịch trích ngang hoàn toàn trắng xóa. Không gia đình, không người thân, không nhà cửa, không tên tuổi. Thị hiện lên như một sinh vật khốn khổ bị quăng quật, hiện lên là một con số không tròn trĩnh trong cơn lốc xoáy của cuộc đời. Chỉ qua lời bông đùa đơn giản Thị nghiễm nhiên trở thành vợ của như những người khác khi về nhà chồng, Thị cũng trải qua đầy đủ mọi cảm xúc, sự e thẹn, xấu hổ, đến niềm vui, sự bần thần lo lắng cùng Tràng và bà mẹ chồng về cái đói, cái nghèo bủa vây. Nhưng trong đó, vẫn là niềm vui, khát vọng sống của từng ấy con người. Từ bức tranh hiện thực ấy mà Kim Lân một lần nữa ca ngợi khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người như một giá trị tốt dựng một kết thúc mở cùng với lối kể truyện độc đáo, lời văn giản dị, chân thành, mộc mạc nhưng rất có sức gợi hình, Kim Lân đã rất tài tình trong việc phản ánh chân thực nạn đói của xã hội Việt Nam những năm 1945. Số phận của người lao động bị rẻ rúng, thấp hèn, bị cái nghèo đói bủa vây cùng vô số những chính sách hà khắc của chế độ thực dân. Qua đó ông cũng thể hiện giá trị nhân đạo đó là ngợi ca khát vọng sống, trân trọng và gieo vào lòng người đọc một niềm tin thay đổi hoàn cảnh. Đồng thời tố cáo xã hội đen tối, tố cáo những chính sách khiến người dân càng lâm vào cảnh lầm bài văn mẫu phân tích Vợ nhặt5. Bài văn phân tích Vợ nhặt Mẫu số 2Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, ”người chết như ngả rạ, không buổi sáng nào người trong làng đi chợi, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vấy lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, đời sống nhân dân thê từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những điều khốn khổ, bần hàn nhất. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút làm nên cuộc đời của từng nhân đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…”. Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Khung cảnh buồn thiu, đầy ám ảnh bao phủ lên xóm khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”.Nguồn internetVới vài chi tiết tiêu biểu, Kim Lân đã vẽ lên trước mặt người đọc hình ảnh người nông dân nghèo đói, xơ xác, bộn bề lo lâu đến cùng giả đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, mới lạ, làm thay đổi cuộc đời của một con người. Tình huống Tràng “nhặt” được vợ. Là “nhặt” được chứ không phải lấy được. Người đọc nhận ra sự thê thảm, bước đường cùng và đầy éo léo của con người trong xã hội bấy ảnh vợ anh cu Tràng dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh “thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn”. Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng là một đôi trời cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, Kim Lân đã xây dựng nên khung cảnh đìu hiu, ảm đạm của xóm nghèo “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Không còn gì thê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy. Mọi thứ dường như bị cái đói, cài nghèo đè nén đến chìm nghỉm. Bằng ngòi bút tả thực sinh động, Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay cho những phận nghèo long đáng chú ý chính là cách những người hàng xóm hỏi thăm Tràng về người đàn bà đi bên cạnh Tràng. Thực ra thấy lạ nên người ta mới hỏi, thì cũng hiểu ra, có lẽ là vợ Tràng, “nhìn chị ta thèn thẹn hay đáo để”. Người đàn bà bắt đầu không còn chua ngoa, đanh đá nữa mà trở nên thẹn thùng khi quyết định theo Tràng về làm vợ một cách bất ngờ, giữa cảnh đói như ngả rạ. Có lẽ cái nghèo đói đã đẩy hai con người đến với nhau, không phải tình yêu nhưng là tình thương. Hẳn người đọc sẽ cảm thông và xót thương cho những mảnh đời dật dờ nơi xóm ngụ trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài tình và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu. Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…”. Sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiện lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…”. Những suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiến cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ đã chấp nhận người “vợ nhặt” của con trai. Tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu đầu tiên. Hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái đói nghèo đến cùng cực trong một gia đình “không còn gì giá trị nữa”. Bà cụ Tứ hôm nay thay đổi tâm trạng, toàn nói những chuyện vui trong nhà, vì bà muốn mang lại không khí vui tươi hơn giữa cái nghèo. Hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên bình dị, đầy chua xót và nước mắt của người mẹ nghèo. Ai cũng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương bà có thể mang lại cho là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân khiến người đọc nhớ mãi. Bên cạnh đó hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện của cuối truyện ngắn đã mang đến chút niềm tin và hi vọng về một tương lai tươi sáng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lí nhân vật sắc sảo, độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất Phân tích Vợ Nhặt của Kim Lân Bài mẫu số 3Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phải đi làm. Yêu thích văn chương, ông bắt đầu sáng tác từ năm 1941. Một số truyện ngắn của ông lấy đề tài ở cuộc sống lam lũ của người nông dân hoặc các sinh hoạt văn hóa truyền thống ở thôn Cách mạng tháng Tám, ông chuyên viết truyện ngắn về làng quê, mảng hiện thực mà ông hiểu biết sâu sắc. Theo Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với những gì thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn. Tác phẩm chính Nên vợ nên chồng tập truyện ngắn, 1955, Con chó xấu xí tập truyện ngắn, 1962. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ nhưng đến sau hòa bình lập lại 1954 mới cho ra mắt bạn đọc trong tập Con chó xấu Vợ nhặt kể về cuộc sống ngột ngạt, bức bối của nhân dân ta trong thời gian xảy ra nạn đói khủng khiếp đã làm chết hơn hai triệu người. Đấy là hậu quả chính sách cai trị dã man của thực dân Pháp trong mấy mươi năm và chủ trương tàn bạo “nhổ lúa trồng đay” của phát xít Nhật. Cũng như một số tác phẩm khác viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận bất hạnh. Thông qua truyện, tác giả tố cáo tội ác dã man của thực dân Pháp, phát xít Nhật; đồng thời phản ánh khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào tương lai tươi sáng của người dân lao tắt nội dung như sau Anh Tràng nghèo khổ, xấu xí, chỉ với vài câu bông đùa và mấy bát bánh đúc mà nhặt được cô vợ đang sống dở chết dở vì đói. Họ thành vợ thành chồng giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát. Đêm tân hôn diễn ra âm thầm trong bóng tối lạnh lẽo, điểm những tiếng hờ khóc tỉ tê của những nhà có người chết đói theo gió vẳng lại. Bữa cơm cưới chỉ có rau chuối, cháo loãng và muối mẹ chồng đãi nàng dâu và con trai món chè nấu bằng cám. Câu chuyện của ba mẹ con xoay sang việc Việt Minh tổ chức phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo. Trong óc Tràng hiện lên hình ảnh của đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp đề Vợ nhặt đã thu hút sự chú ý của người đọc ngay từ đầu. Vợ nhặt là vợ theo không, chẳng cưới xin gì. Tựa đề khá lạ của truyện đã nói lên đầy đủ về cảnh ngộ, số phận của nhân vật. Chuyện anh Tràng bỗng dưng nhặt được vợ phản ánh tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp xảy ra vào mùa xuân năm công trước tiên của truyện Vợ nhặt là ở chỗ tác giả đã tạo ra một tình huống độc đáo Một anh chàng ngụ cư xấu xí, nghèo khổ, ế vợ, vậy mà đã nhặt được vợ chỉ bằng vài bát bánh đúc. Giá trị của con người rẻ rúng đến thế là cùng! Tác giả diễn tả tình huống đặc biệt này qua thái độ ngạc nhiên của dân xóm ngụ cư khi thấy Tràng dẫn về nhà một người đàn bà lạ. Họ ngạc nhiên bởi thời buổi đói khát này, đến nuôi thân còn chẳng nổi vậy mà Tràng còn dám lấy vợ. Bà mẹ của Tràng cũng sửng sốt vì không ngờ con trai mình đã có vợ. Thậm chí chính Tràng cũng chẳng hiểu tại sao mình lại có vợ dễ dàng đến nhân sâu xa là do nạn đói khủng khiếp đang xô đẩy còn người vào chỗ chết nên người đàn bà kia mới phải chấp nhận làm vợ Tràng. Ý nghĩa tố cáo của tác phẩm tuy kín đáo nhưng sâu sắc. Tác giả không trực tiếp nói đến tội ác của bọn đế quốc, phong kiến, vậy mà tội ác của chúng cứ phơi bày ra một cách đáng ghê tởm và tình cảnh cơ cực, đói khát của dân nghèo quả là thê huống lạ lùng nói trên là đầu mối cho sự phát triển của nội dung truyện, tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật. Bối cảnh lớn của truyện là nạn đói năm 1945, bối cảnh nhỏ là cái xóm ngụ cư tồi tàn ven chợ. Mở đầu tác phẩm, tác giả đã vẽ nên bức tranh hiện thực với màu sắc ảm đạm và hình ảnh thê đây không lâu, mỗi chiều Tràng đi làm về, đám trẻ con lại bu theo anh, đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi… Cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy mỗi chiều lại xôn xao lên được một lúc. Nhưng bây giờ thì niềm vui nhỏ nhoi ấy không còn nữa trẻ con không đứa nào buồn ra đón Tràng… Chúng nó ngồi ủ rũ dưới những xó đường, không buồn nhúc nhích… Nụ cười dễ dãi mọi ngày của Tràng cũng tắt Trong bóng chiều nhá nhem, Tràng đi từng bước mệt mỏi, chiếc áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về phía trước. Hình như những lo lắng chật vật trong một ngày đè xuống cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn…Đâu đâu cũng thấy cảnh Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. Quả là một cảnh tượng khủng khiếp! Thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói chưa từng thấy từ trước đến nay, khiến hàng triệu người chết đói. Khắp nơi, đâu đâu cũng bao phủ bởi một màu địa nhân vật chính của câu chuyện là một thanh niên ngụ cư nghèo khổ, xấu xí, sống hiu quạnh với mẹ già trong túp lều tồi tàn ở mé sông. Ngày xưa, kiếp ngụ cư tủi nhục trăm bề. Họ bị dân làng khinh rẻ và phải làm những công việc bị coi là hèn hạ như đầy tớ, thằng mõ… Dân địa phương dù nghèo đến mấy cũng không chịu gả con gái cho đám ngụ cư vì cho rằng như thế là vô phúc. Đã thế Tràng lại còn xấu xí …hai con mắt nhỏ tí… quai hàm bạnh ra… bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lí thú vừa dữ tợn… cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước… cái lưng to rộng như lưng gấu… Vì thế nên anh đã đứng tuổi mà vẫn không sao lấy được gặp người đàn bà ấy tất cả chỉ có hai lần vào những dịp chở thóc lên tỉnh. Lần thứ nhất, hai bên chỉ đùa bỡn dông dài vài câu rồi thôi. Lần sau gặp tại, Tràng không nhận ra vì chị ta thay đổi nhiều quá. Chị ta nhắc mãi anh mới nhớ ra và toét miệng cười xin lỗi rồi mời ăn trầu. Chị ta sỗ sàng gợi ý Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu. Anh vui vẻ đãi chị một bữa bánh đúc thứ quà của người nghèo no nê. Thấy chị cắm cúi ăn như chưa bao giờ được ăn, Tràng động lòng thương, liền bảo Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng nói của Tràng nửa đùa nửa thật. Đùa ở chỗ bỡn cợt cho vui, nhưng thật ở chỗ trong thâm tâm, Tràng cũng đang muốn có vợ. Khốn nỗi vì anh nghèo quá nên không ai chịu lấy. Thời ấy, đứng tuổi như Tràng mà chưa có vợ là không bình thường, là bất hạnh. Câu nói của anh vừa tếu táo vừa đượm vẻ chua chát Làm đếch gì có vợ… Đã từ lâu, anh ao ước có được một người vợ, nhưng chí ít cũng phải là người bình thường, khỏe mạnh chứ đâu phải là loại chết đói chết khát, dở người dở ma kia?Tràng nói đùa không ngờ chị ta theo về thật khiến anh chợn, nghĩ Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Nghĩ rồi lo, nhưng anh tặc lưỡi Chậc, kệ! Có lẽ anh cho rằng mình đang mạnh chân khỏe tay, lại có công ăn việc làm, nên dẫu đèo bòng thì cũng chưa đến nỗi chết đói ngay đâu mà sợ. Vả lại, anh nỡ lòng nào bỏ người đàn bà kia chết đói cho đành?Chẳng còn là chuyện đùa bỡn nữa. Không chỉ đơn giản là cứu người mà còn may mắn tự nhiên có được vợ nên Tràng phải nghiêm túc và có trách nhiệm. Anh đưa chị ta vào chợ tỉnh, đãi thêm một bữa thật no, sắm cho cái thúng đựng mấy thứ lặt vặt rồi dẫn về nhà. Trong lòng Tràng giờ đây không chỉ có tình thương mà còn có niềm vui sướng, háo hức. Mấy lần Tràng định nói với thị một vài câu cho tình tứ mà chẳng biết nói thế nào. Cái phút ban đầu bao giờ chả thế. Đùa thì tự nhiên. Nửa đùa nửa thật đã khó. Nay đã là thật rồi, khó biết mấy! Mà mọi chuyện có bình thường, êm đẹp cả đâu? Tràng lúng túng là vậy, từ trong sâu thẳm lòng anh, niềm vui bất ngờ cứ dâng lên mãi Trong một lúc, Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa… Trong lòng hắn bấy giờ chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy… Đúng là thế. Đó là niềm vui to lớn nhất đời anh đã có vợ. Tình cảm của anh đối với người đàn bà xa lạ kia không chỉ là thương hại, cưu mang mà còn là lòng biết ơn bởi chị ta đã chịu làm vợ anh mà không đòi hỏi một điều kiện nào. Nhờ thế anh mới có được vợ và cuộc đời anh mới đổi khác. Từ nay, anh không còn phải sống thui thủi một mình một bóng dẫn người đàn bà về nhà lúc trời nhập nhoạng tối. Họ đi vào cái ngã tư xóm chợ… xác xơ, heo bút. Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết…Bức tranh ngập tràn tử khí. Ảm đạm cảnh, ảm đạm người, nhà cửa, xác xơ, heo hút, úp súp, tối om… chẳng khác chi những nấm mồ hoang lạnh. Sự sống chỉ còn thoi thóp. Cái chết đã đến, đang đến. Lại thêm tiếng quạ cứ gào lên từng hồi bởi chúng đã đánh hơi thấy mùi xác chết. Tất cả cảnh vật đểu đang lâm vào thế lụi tàn, tan rữa. Giọng văn của Kim Lân ở đoạn này rất tỉnh táo, khách quan nhưng dồn nén cảm xúc đau thương nên gây ấn tượng cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. Tràng dẫn người đàn bà này về làm vợ, để xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái tiếp nối sự sống. Trên bờ vực thẳm của cái chết, họ tìm đến sự sống. Giọng kể của tác giả chợt trở nên hóm hỉnh Mặt hắn có một vẻ gì phởn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh. Tràng vui sướng trước sự kiện to lớn bất ngờ của đời mình anh đã kiếm được vợ, anh đang dẫn vợ về nhà. Đói, chết tràn lan, mình cũng đói, mẹ già cũng đói, thế mà lại tự nhiên có vợ. Chuyện lạ lùng mà thú vị!Lạ lùng với Tràng và lạ lùng cả với cái xóm ngụ cư tồi tàn, nhỏ bé này. Cái cảnh Tràng đi trước, người đàn bà đi sau cách ba bốn bước với cái dáng rón rén, e thẹn, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt… làm cho mọi người tò mò đổ ra xem. Lũ trẻ con thấy lạ trước. Cái lạ lùng đã thắng cái đói, trả lại tính vui đùa hồn nhiên vốn có của chúng. Một đứa đột ngột gào lên Anh Tràng ơi! Chông vợ hài! khiến Tràng phải bật cười chửi yêu Bố ranh! mà trong bụng thì khoái lắm. Tiếp theo trẻ là bà con xóm chợ ai cũng thấy lạ. Họ bàn tán… Họ hiểu đôi phần, khuôn mặt họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Từ trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn le lói một niềm vui. Họ thú vị nghĩ tới chuyện Tràng có vợ. Họ muốn chia vui cùng anh. Cái xóm ngụ cư đang hấp hối này bỗng bừng lên một thoáng đấy nhưng lo ngay đấy. Người ta lo thay cho Tràng ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không? Ấy là họ lo cho cái sự sống đang phải đối mặt từng ngày với cái chết và cứ hi vọng vượt lên cái chết. Hai người về đến nhà Tràng. Cái tổ ấm của họ ra sao trong đêm tân hôn? Sự sống được tiếp nối như thế nào?Cái gọi là nhà đúng ra chỉ là túp lều vắng teo… rúm ró. Trong lều, niêu bát, xống áo… bừa bộn trên giường, dưới đất… Khung cảnh hoang tàn, vắng lạnh. Tràng chợt có cảm giác sờ sợ người đàn bà ngồi bất động ở đầu giường như một bóng ma… Có cái gì đó kì dị như trong truyện ma quỷ thời xưa. Đến đêm, cảnh tượng lại càng lạ lùng hơn nữa. Tràng chỉ dám thắp đèn có một lúc. Hai vợ chồng nằm bên nhau, đành giấu những gì yên và vui vào bóng tối. Nhưng bóng tối cũng không yên mà hãi hùng, đáng sợ bởi đầy tiếng hờ khóc tỉ tê… vẳng ra từ những nhà có người chết vợ lấy chồng là việc lớn một đời, là hạnh phúc trăm năm. Ấy thế mà ở đây, chút hạnh phúc nhỏ nhoi, mong manh của hai người lại bị bủa vây bởi cái đói và cái chết. Buổi chiều là tiếng quạ kêu, là bóng người dật dờ như bóng ma, ban đêm là tiếng hờ khóc người chết… Nhưng sự sống là bất diệt. Từ trong cái chết, sự sống vẫn sinh sôi nảy nở. Bi thương cùng cực thành dữ dội. Có cái gì đó giống như một cảnh trong bi kịch của Sếch-Xpia hay trong tiểu thuyết Đô-xtôi-ép-xki dữ dội, kinh khủng nhưng thật sâu sắc, lớn lao.. Sự sống cứ tồn tại, bất chấp cái chết. Rõ ràng, ý chí con người và quy luật cuộc đời mạnh mẽ biết là chừng nào!Sau một đêm, Tràng thấy mình hoàn toàn đổi khác Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải… Mình đã có vợ thật rồi sao? Ai vậy? Cưới bao giờ nhỉ? Không lẽ mong ước bao lâu mà nay đã thành sự thật một cách dễ dàng, chóng vánh đến thế ư? Chuyện xảy ra cứ như trong mơ, thật khó tin, nhưng cái cảm giác êm ái lửng lơ lạ lùng chưa từng thấy vẫn đang tồn tại trong người và rõ ràng trước mắt, người đàn bà bằng xương bằng thịt kia là vợ là chuyện anh Tràng tự dưng nhặt được cô vợ không nghiêm túc về mặt hình thức giờ đã trở thành chuyện hoàn toàn nghiêm túc theo đúng đạo nghĩa vợ chồng. Cái bên ngoài không đẹp ấy lại chứa đựng một nội dung thật đẹp, thật cảm cầu được yêu thương và khao khát xây dựng cho mình một tổ ấm gia đình là bản năng của con người. Buổi sáng sau đêm đầu tiên Tràng có vợ, không khí gia đình anh trở nên khác hẳn. Nhờ sự có mặt của người đàn bà mà cái nhà của anh mới thật sự là một tổ ấm. Trước kia, mẹ con Tràng chỉ sống tạm bợ cho qua ngày. Nay ai cũng có trách nhiệm hơn với nhà cửa, vườn tược của mình. Nhìn vợ và mẹ đang dọn dẹp, Tràng bỗng thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ẩm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong trạng này diễn ra ở một người như Tràng mới thật cảm động. Người ta lấy vợ lấy chồng, điều ấy có gì đặc biệt lắm đâu; nhưng với Tràng thì đó là cả một ước mơ lớn tưởng chừng không bao giờ thực hiện được. Giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm chính là ở chỗ tác giả đã phát hiện, đồng cảm và chia sẻ niềm vui sướng rất con người này ở những thân phận nghèo khổ trong xã hội cũ. Niềm khao khát hạnh phúc gia đình và niềm tin le lói của người dân lao động vào tương lai là rất đáng trân cạnh Tràng, người vợ nhặt cũng là một nhân vật trung tâm của truyện. Người đàn bà ấy không có đến một cái tên để gọi. Không tên, không tuổi, cả đến đặc điểm nhận dạng công không nốt. Chẳng ai biết gốc tích của chị ở đâu? Cha mẹ là ai? Nhà cửa, anh em thế nào? Tất cả đều không. Chỉ biết là ngày ngày, chị ngồi lẫn trong đám con gái trước cửa kho thóc để nhặt nhạnh hạt rơi hạt vãi hay chờ ai có việc gì thuê mướn thì thức của chị ta cũng giống như bao kẻ đói khát khác Áo quần tả tơi như tổ đỉa… trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt… Chị ta là một trong hàng triệu con người bần cùng, đói rách, tha phương cầu thực, lang thang vất vưởng kiếm ăn và sẽ chết gục nơi đầu đường xó chợ bất cứ lúc nào. Việc chị ta trở thành vợ Tràng giống như một trò đùa, là chuyện tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành nay, hôn nhân là đại sự. Con gái lấy chồng, giàu nghèo gì cũng phải cố cưới xin tử tế. Giàu thì làm lớn, mời họ mời làng. Nghèo đến mấy cũng phải có mâm cơm trình tổ tiên, ông bà rồi mới nhận vợ, nhận chồng. Vợ thì cũng năm bảy loại. Có loại quý hóa như cô tiểu thư con quan trong Lí ngựa ô, đem lại danh giá, sang trọng cho chồng. Có loại vợ phải tốn bao công sức, tiền của mới cưới được… Tủi nhục thay cho những ai mang tiếng là vợ theo theo không, chẳng cưới hỏi gì. Xã hội, gia đình không chấp nhận những cuộc hôn nhân như vậy. Tủi hơn nữa, người đàn bà trong truyện lại là vợ nhặt – Tràng tình cờ nhặt được chị như nhặt được một vật gì đó rơi trên đầu, chị quen Tràng bởi câu hò chơi cho đỡ nhọc của anh và những lời trêu ghẹo của bạn bè. Chị lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, đùa bỡn với anh và liếc mắt, cười tít. Chuyện đùa giỡn chì có vậy nên người đàn bà này không để lại dấu ấn gì trong trí nhớ của Tràng. Vì thế, gặp lần thứ hai, anh không nhận ra chị ta bởi Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi… gầy sọp hẳn đi… Chị ta đói. Đói lắm! Cái đói cào cấu ruột gan. Chị ta sỗ sàng gợi ý để Tràng mời ăn và ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc. Cắm đầu mà ăn, chẳng chuyện trò gì mải mê như chưa từng được ăn bao giờ. Quên cả giữ kẽ, quên cả thẹn thùng. Quả là cái đói đã đẩy lùi sĩ diện, đẩy lùi nhân như thế là đói lâu rồi, nay chỉ cần có chút gì cho vào bụng để sống. Cảnh ấy khiến Tràng động lòng thương. Anh buột miệng nói Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Tràng chỉ đùa, ai ngờ chị ta theo về thật. Người đàn bà ấy đi theo Tràng trước hết chỉ vì miếng ăn chứ chẳng có tình cảm gì. Nghĩ cũng xấu hổ nên trên đường về nhà “chồng”, chị ta chả biết nói gì và tỏ ra ngượng ngùng khi thấy mọi người trong xóm ngụ cư nhìn mình bằng ánh mắt tò mò. Chị ta chấp nhận theo không một gã đàn ông xa lạ, xấu xí chỉ là để có một nơi nương tựa cho khỏi chết đói. Lâm vào tình cảnh éo le ấy, chị ta vừa ngượng ngùng vừa tủi phận. Lúc gặp bà cụ Tứ, chị e sợ, khép nép, chẳng biết nói năng, chào hỏi thế nào cho người đàn ông mới quen đôi lần, nay hào phóng cho ăn một bữa no, ngoài ra không biết tính tình ra sao, gia cảnh thế nào, chỉ nghe nói là chưa có vợ biết là thật hay giả, vậy mà đi theo một cách dễ dàng, không đắn đo, sợ hãi. Có liều lĩnh chăng? Nhẹ dạ chăng? Mặc kệ! Theo anh ta để được ăn, được sống cái đã, vợ chồng là chuyện lâu dài, biết đâu mà tính trước. Khỏi đói, Khỏi chết lúc này là quan trọng nhất. Mọi cái khác thứ yếu tất. Thế mới biết cái đói ghê gớm, kinh khủng biết chừng nào!Vào nhà Tràng, chị cứ ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần. Anh Tràng mời chị ngồi cơ mà? Sao chị không dám ngồi cho ngay ngắn, đàng hoàng? Mẹ anh chưa về, có ai đâu mà giữ lễ? Hóa ra cái dáng ngồi rụt rè, chông chênh ấy kì thực cũng là cái thế của lòng chị, đời chị. Liệu chỗ ngồi này có phải là chỗ của chị không? Mái nhà này có phải là nơi để chị dung thân không? Chị bần thần vì ngỡ như mọi chuyện vừa xảy ra không phải là thực. Làm vợ, làm dâu mà đến thế này ư? Lấy chồng, cái hạnh phúc lớn nhất của đời con gái ấy, chị có được hưởng chút nào đâu? Buồn lắm! Tủi lắm! Trăm mối ngổn ngang. Chị không nói được nên lời, bởi cất tiếng, chắc chị sẽ khóc. Nỗi đau không trào ra theo nước mắt mà lặn vào trong nên càng đau, càng thế nhưng chỉ sau một đêm làm vợ Tràng, chị hóa ra khác hẳn Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chạo chát như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh… Hoàn cảnh sống nghiệt ngã biến chị ta có lúc thành kẻ trâng tráo, nhưng bản chất thì không phải như vậy. Nếu hôm qua, cái đói làm mất đi những gì tốt đẹp ở chị thì hôm nay, chị bắt đầu có ý thức vun vén cho tổ ấm của mình. Chị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang… Có bàn tay săn sóc của chị, túp lều rách nát, tăm tối của mẹ con Tràng bỗng trở nên sáng sủa, gọn ghẽ hẳn ra. Sự sống đã trở về với người, với cảnh. Cho đến lúc này, chị mới có cảm giác chuyện làm vợ của mình là thật. Cái hạnh phúc đơn sơ mà đầm ấm ấy đã đem đến một sự đổi thay thật sự trong hình dáng và tính cách của người đàn bà, khiến cho Tràng phải ngạc nhiên, bỡ cụ Tứ mẹ anh Tràng là nhân vật gây được nhiều thiện cảm đối với người đọc. Tấm lòng nhân hậu của bà mới đáng quý làm sao! Lúc đầu, thấy người con gái xa lạ ngồi ở giường con trai mình, bà ngạc nhiên lắm. Được chào bằng u, bà càng chẳng hiểu gì và cố nhìn cho kĩ mà vẫn không nhận ra chị ta là ai. Bà phân vân, đoán định… Mãi đến lúc Tràng bảo Kìa nhà tôi nó chào u… thì bà mới vỡ lẽ. Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp con mình… Ra thế! Thằng con mình nó đã kiếm được vợ, nhưng…Bà tủi thân tủi phận là cha mẹ mà không làm tròn bổn phận đối với con cái. Trăm sự cũng tại cái nghèo mà ra Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Bà lo lắng thực sự Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không. Nhưng rồi ngẫm đến thân phận nghèo khó của hai mẹ con, bà lại tự an ủi Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Nghĩ thế nên bà vui lòng chấp nhận nàng dâu mới. Bà cư xử với chị dịu dàng, âu yếm gọi chị là con, xưng u và bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi…Với tâm lí của một người mẹ, bà ao ước có được dăm ba mâm trước cúng tổ tiên ông bà, sau mời làng mời xóm. Nhưng ao ước ấy không thể thực hiện được vì bà nghèo quá. Bà rất biết trước biết sau, song cái khó bó cái khôn, bà đành chịu. Bà chỉ biết nói với các con những lời khuyên nhủ chân tình cốt làm sao cho chúng mày hòa thuận là u mừng rồi… Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá. Con trai tự dưng có được vợ, bà lão mừng lắm Bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa…Bà không vui sao được khi con trai bà đã thành gia thất?! Bà cũng vơi đi một mối lo âu bấy lâu nay cứ canh cánh bên lòng. Trong bữa ăn đầu tiên của ba mẹ con, dẫu chỉ có cháo loãng với muối hột nhưng bà toàn nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này- Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này, ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…Ở người đàn bà già nua, nghèo khổ này chứa đựng những nét đạo lí cổ truyền của dân tộc. Bà cố gắng xua đi cái ám ảnh đen tối đáng sợ của thực tại, nhen nhúm niềm tin, niềm vui sống cho các con. Trong cái thân hình khẳng khiu, tàn tạ vì đói khát ấy vẫn nung nấu một ý chí mãnh liệt Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mọt cơm, cầm cái muôi vừa khuấy khuấy vừa cười- Chè đây… Chè khoán đây, ngon đáo để bà múc trao cho con dâu, con trai, miệng vẫn tươi cười, đon đả - Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy…Bà lão “đãi” nàng dâu mới món ăn đặc biệt mà bà gọi là chè, nấu bằng cám. Bà khen ngon đáo để và so sánh Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy. Vậy có cám mà ăn như thế này là còn may lắm! Chao ôi là khổ! Phải đói đến mức nào thì mới ăn cảm thấy ngon? Cuộc sống khắc nghiệt đày đọa con người, bắt họ phải sống cuộc sống của loài vật, song nó không dập tắt được phần người, rất người trong lòng bà mẹ khốn khổ kia. Bà cố đổi buồn thành vui. Bà cố tươi cười, đon đả cho bữa cơm đỡ phần thê thảm, còn tác giả và chúng ta thì khóc. Khóc vì thương, vì quý tấm chân tình của giữa cái chết ngày càng che phủ bóng đen gớm ghiếc của nó vào mọi gia đình, vậy mà những người nghèo khổ như mẹ con Tràng vẫn tin vào cuộc sống, vào tương lai Ai giàu ba họ, ai khó ba đời. Bà cụ Tứ cứ tin vu vơ như thế. Vì miếng cơm manh áo, họ buộc phải vượt lên mọi gian nan, khổ ải để sống nên mới có được niềm tin dai dẳng và kì diệu ấy. Ba mẹ con Tràng đã tìm thấy niềm vui trong sự nương tựa, cưu mang lẫn nhau mà sống. Tình vợ chồng, mẹ con sẽ là động lực giúp họ tăng sức mạnh vượt qua giai đoạn ngặt nghèo trước mắt. Tình cảm ấy rất cần nhưng chưa đủ để đảm bảo cho ba người một tương lai tốt đẹp hơn. Hiện tại, cuộc sống vẫn một màu xám xịt, đầy đe dọa và chết chóc Ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã. Đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vẩn trên nền trời như những đám mây đen…Cái tài của tác giả là cứ nhẹ nhàng như không mà luồn lách ngòi bút động đến tận nơi sâu thẳm của tâm hồn, bắt người ta phải cười, phải khóc, phải sống với nhân vật của mình. Trong suốt truyện, tác giả không một lần trực tiếp nhắc đến thực dân Pháp, phát xít Nhật và bè lũ phong kiến tay sai nhưng tội ác của chúng vẫn hiển hiện, phơi bày trên từng trang viết và được gói gọn trong câu nói đầy phẫn uất của bà mẹ già Trống thúc thuế đấy. Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ… Người con dâu nhắc chuyện trên mạn ngược, Việt Minh phát động dân chúng không đóng thuế, lại còn tổ chức phá kho thóc của Nhật chia cho người nghèo… Điều ấy gợi cho Tràng nhớ tới cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ… và tâm trí anh bị cuốn hút mãi bởi hình ảnh chưa được giác ngộ cách mạng nên lúc chứng kiến cảnh đó anh thấy sợ. Giờ hiểu ra, anh lại ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu… Bước đầu, anh thấy rằng cần phải làm như thế vì không có cách nào khác. Tin rằng lần sau, trong đoàn người phá kho thóc của Nhật, thế nào cũng có mặt vợ chồng Tràng. Hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới đem đến cho Tràng bao hi vọng vào sự đổi đời. Đó là ý nghĩa dự báo cách mạng của tác phẩm này. Truyện Vợ nhặt tiêu biểu cho phong cách viết độc đáo của nhà văn Kim Lân. Cốt truyện đơn giản nhưng chặt chẽ. Trong truyện, người và cảnh đan xen, tương phản với nhau. Bản chất đẹp đẽ bên trong tương phản với vẻ xấu xí bên ngoài, sự sống tương phản với cái chết… Tất cả đều nhằm mục đích làm nổi bật chủ đề của giả không miêu tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ mà chú trọng đến việc thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái bề ngoài xác xơ vì đói khát của những người nghèo khổ. Viết truyện này, tác giả bày tỏ thiện cảm sâu sắc đối với họ. Ông khẳng định sự đói khát, không tiêu diệt được bản tính tốt đẹp của con người, hiện thực tăm tối không giết chết nổi niềm tin vào cuộc sống. Trong hoàn cảnh cơ cực, đọa đày, họ vẫn nhen nhóm niềm tin, vẫn hi vọng vào sự đổi đời và một tương lai tốt đẹp. Truyện gây ấn tượng mạnh với người đọc bởi tính chất nhân văn cao cả, bởi ngôn ngữ mộc mạc, sinh động và giàu sức gợi tả. Tấm lòng của tác giả gửi gắm trong truyện đáng quý biết chừng nào!-/-IV. Kiến thức mở rộng bài Vợ nhặt- Giá trị hiện thực của truyện Vợ nhặt+ Phản ánh chân thực tình cảnh thê thảm, rẻ rúng người nông dân trong nạn đói năm 1945.+ Đó là hệ quả của những chính sách hà khắc, vô nhân tính của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật Đằng thì bắt đóng thuế, đằng thì bắt nhổ lúa trồng đay. Dân ta lâm vào cảnh một cổ hai tròng áp bức do sự đê hèn, đốn mạt của thực dân Giá trị nhân đạo+ Tố cáo mạnh mẽ tội ác của kẻ thực dân, phát xít+ Phản ánh bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của con người luôn hướng đến sự sống, hi vọng, tin tưởng ở tương lai.>>> Tham khảo thêmPhân tích tình huống nhặt vợ trong truyện Vợ nhặtPhân tích giá trị nhân đạo trong truyện Vợ nhặtTrên đây là những gợi ý cơ bản cho bài văn phân tích truyện ngắn Vợ nhặt Kim Lân cùng một số bài văn mẫu phân tích Vợ nhặt hay do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn. Hi vọng sẽ giúp các bạn học sinh lớp 12 ôn tập, rèn luyện kỹ năng làm văn tốt hơn để chuẩn bị cho các kì thi, kiểm tra sắp tới. Chúc các bạn học tốt môn Văn !
Hãy chọn một lá bài tarot bên dưới theo trực giác để xem bạn sẽ gặp phải điều muộn phiền nào trong cuối tháng này nhé! Quy tắc bói bài tarot Nhắm mắt, giữ trạng thái tĩnh trong 30 giây và chọn một lá bài dưới đây theo trực giác. Cuối tháng này, chuyện tình cảm của bạn phải đối mặt với những mâu thuẫn, thậm chí còn có nguy cơ chia tay. Bạn luôn hết lòng vì nửa kia, nhưng những gì mà bạn nhận lại chỉ là đau đớn và thất vọng. Bạn chẳng có được tình yêu đẹp đẽ như mình mong muốn. Sau lần đổ vỡ này có lẽ bạn sẽ chui mình vào trong vỏ ốc của mình. Đừng quá bi quan, cuộc đời này còn có nhiều điều tươi đẹp và ý nghĩa hơn cả tình yêu. Bạn sẽ trải qua sự chia ly trong mong muốn trong cuối tháng này. Những người mà bản thân luôn coi là bạn tốt hóa ra lại không như vậy. Vị trí của bạn trong mắt họ cũng chỉ bằng người qua đường. Việc này giống như một cái tát đau đớn cho bạn, trong khi bạn luôn dành những tình cảm chân thành cho họ. Tuy nhiên, bạn sẽ rút được bài học trong đặt niềm tin và tình cảm đúng chỗ. Trong cuối tháng này, bạn có thể sẽ đối mặt với những vấn đề liên quan đến sức khỏe. Bạn xem sức khỏe giống như một nguồn tài nguyên vĩnh cửu. Hằng ngày, bạn thỏa mái sử dụng và vắt cạn nó. Hãy quan tâm, coi trọng đến sức khỏe của bản thân. Đôi khi có tiền vẫn không thể mua lại được sức khỏe. Bạn sẽ cảm thấy mong lung trong công việc, mặc dù đã rất cố gắng nhưng khoảng cách của bạn với mục tiêu ngày càng xa ra. Những khoảng thời gian nghỉ ngơi hay rảnh rỗi cũng được bạn lấp đầy bằng công việc. Với những công sức bạn bỏ ra nhưng kết quả lại không được khả quan. Điều này làm cho tâm lý của bạn trở nên bi quan. Lưu ý Thông tin bài viết Bói bài tarot mang tính chất giải trí! Bói bài tarot hàng ngày Công việc tháng 6 này của bạn sẽ thế nào? Chọn một lá bài tarot bên dưới theo trực giác để cùng xem tháng 6 này công việc thế nào nhé! Bói bài tarot hàng ngày Điều gì sẽ đến với bạn trong tháng 6 này? Chọn một lá bài tarot bên dưới để xem điều mới mẻ gì đang đến với bạn trong tháng 6 này nhé! Bói bài tarot hàng ngày Tài chính thời gian tới của bạn sẽ ra sao? Bạn hãy chọn một lá bài tarot theo trực giác để xem tài chính thời gian tới của bạn sẽ ra sao nhé! Bói bài tarot hàng ngày Chuyện tình cảm của bạn trong 10 ngày tới? Hãy chọn một lá bài tarot dưới đây theo trực giác để xem chuyện tình của bạn sẽ thế nào trong thời gian tới nhé! Bói bài tarot hàng ngày Nửa cuối năm 2023, thần tài có mỉm cười với bạn? Hãy chọn một lá bài tarot dưới đây theo trực giác để xem thần tài có mỉm cười với bạn trong nửa cuối năm 2023 ... Xem nhiều Đọc thêm Cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần gương mẫu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị tiếp tục nghiên cứu đổi mới, sáng tạo trong tuyên truyền, giáo dục học và làm theo gương Bác. Mỹ Viên hồng ngọc lớn nhất thế giới xác lập mức giá cao kỷ lục Estrela de Fura là viên hồng ngọc lớn nhất thế giới từng được đem ra đấu giá và ngay lập tức được xác lập mức giá kỷ lục. Khai giảng lớp học Tiếng Việt của em’ tại Fukuoka, Nhật Bản Lớp dạy tiếng Việt và văn hoá Việt cho trẻ em gốc Việt đầu tiên tại khu vực Tây Nam Nhật Bản đã khai giảng ngày 10/6. VĐV Đỗ Kim Phúc gặp gỡ và tặng nón lá siêu sao Cristiano Ronaldo tại Al Nassr FC VĐV bóng đá nghệ thuật Đỗ Kim Phúc có ít phút gặp gỡ Cristiano Ronaldo và được siêu sao người Bồ Đào Nha ký tặng trong chuyến sang Arab Saudi. Tử vi 12 cung hoàng đạo Thứ Ba ngày 13/6/2023 Bạch Dương tình yêu nở hoa Tử vi hôm nay 13/6/2023 của 12 cung hoàng đạo - Ma Kết, Bảo Bình, Song Ngư, Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Xử Nữ, Thiên ...
Tham khảo Dàn ý cảm nhận về nhân vật Tràng trong Vợ Nhặt ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các dàn ý sau đây sẽ giúp các bạn nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!Dàn ý cảm nhận về nhân vật Tràng trong Vợ Nhặt - Mẫu số 1I. Mở bài- Giới thiệu khái quát về tác giả – tác phẩm –nhân vật Tràng- Tác giả Nhắc tới nhà văn Kim Lân là nhắc tới ông hoàng của thể loại truyện ngắn. Ông viết về con người và cuộc sống ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng đang xem Luận điểm bài vợ nhặt- Tác phẩm “Vợ nhặt” là truyện ngắn độc đáo, in trong tập “Con chó xấu xí”.- Nhân vật Tràng Qua tác phẩm, nhân vật Tràng đã để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu Thân bài1. Nội dung phân tích* LĐ1 Gia cảnh, ngoại hình, tính cách nhân vật Tràng- Là người lao động nghèo, tốt bụng và cởi mở giữa lúc đói, anh sẵn lòng đãi người đàn bà xa lạ- Tràng là nhân vật có bề ngoài thô, xấu, thân phận lại nghèo hèn, mắc tật hay vừa đi vừa nói một mình, là dân ngụ cư, lại đang sống trong những ngày tháng đói khát nhất nạn đói Ở Tràng luôn khát khao hạnh phúc và có ý thức xây dựng hạnh phúc.* LĐ2 Tình huống truyện Tràng “nhặt” được vợ- Chi sau hai lần gặp gỡ và cho ăn 4 bát bánh đúc, vài câu nói nửa đùa nửa thật. Câu “nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” đã ẩn chứa niềm khát khao tổ ấm gia đình. Người đàn bà xa lạ đã đồng ý theo Tràng về làm vợ+ Lúc đầu Tràng cũng cảm thấy lo lắng “chợn nghĩ” Thóc…đèo bòng”.+ Sau đó Tràng đã “Chậc, kệ” và Tràng đã “liều” đưa người đàn bà xa lạ về Trên đường đưa vợ về xóm ngụ cư cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới. Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ Khi về tới nhà Tràng cảm thấy lúng túng, chưa tin vào sự thật mình đã có vợ. Đó là niềm hạnh Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ lại vừa hợp lí. Qua đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật.* LĐ3 Diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng trong buổi sáng sau ngày hắn nhặt được Sáng hôm sau Tràng dậy muộn “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Việc hắn có vợ đến lúc ấy hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không Lần đầu tiên người đàn ông nghèo khổ ấy nhận ra rằng ngôi nhà chính là tổ ấm, một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Tràng đã trở nên sâu sắc hơn rất nhiếu sau khi anh có Trong bữa cơm gia đình đầu tiên từ khi có vợ Tràng vâng dạ với bà cụ Tứ “rất ngoan ngoãn”. Thái độ đó của anh góp phần tạo lên một không khí đầm ấm hòa hợp của một gia đình thực Đúng lúc ấy, ngoài đình vang lên một hồi trống dồn dập. Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi điều gì đó. Có lẽ hắn nghĩ đến những người đi phá kho thóc Nhật…2. Đặc sắc nghệ thuậtTóm lại, nhân vật chính của câu chuyện nhặt được vợ – Tràng đã được Kim Lân khắc họa một cách sinh động qua nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật trong tác phẩm của dựng tình huống truyện độc Kết bài- Tổng kết nội dung phân Nêu cảm ý cảm nhận về nhân vật Tràng trong Vợ Nhặt - Mẫu số 21. Mở bài cảm nhận về nhân vật Tràng- Giới thiệu về tác giả Kim Lân và truyện ngắn Đôi nét về nhân vật Tràng cùng những phẩm chất cao Có thể đi từ hình tượng người nông dân => Dẫn đến nhân vật Tràng trong Vợ Thân bài cảm nhận về nhân vật Tràng- Xuất thân nghèo khó và hoàn cảnh éo le của nhân vật Tràng là một nhân vật có tính cách nhân hậu và cởi Nhân vật Tràng là người có ý thức và khát khao về hạnh Kết bài cảm nhận về nhân vật Tràng- Nêu những suy nghĩ chung về nhân vật Tràng trong tác Khái quát nội dung cùng giá trị nghệ thuật xây dựng nhân Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc. Đồng thời tác phẩm này cũng phản ánh chân thực bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của những người nông ý cảm nhận về nhân vật Tràng trong Vợ Nhặt - Mẫu số 31. Mở bài- Kim Lân là cây bút viết truyện ngắn chuyên nghiệp, ông tập trung viết về cảnh nông thôn, hình tượng người nông dân lao Vợ nhặt là truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân trong nạn đói năm 1945, nhân vật Tràng là hình tượng đại diện cho số phận của những người nông dân giai đoạn Thân bàia Hoàn cảnh- Hoàn cảnh gia đình dân ngụ cư bị khinh bỉ, cha mất sớm, mẹ già, nhà ở tồi tàn, cuộc sống bấp bênh, ...- Hoàn cảnh bản thân xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn vập vạp, trí tuệ ngờ nghệch, vụng về, ...b Tâm trạng và hành động* Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ- Lần gặp 1 lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng Lần gặp 2+ Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì. Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng.+ Khi người đàn bà quyết định theo mình về Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”. Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.+ Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ diễn tả sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy vợ.* Trên đường về+ Vẻ mặt “có cái gì phơn khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”. Đó là tâm trạng hạnh phúc, hãnh diễn.+ Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa.* Khi về đến nhà+ Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà. Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.+ Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vi gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.+ Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ. Đây là biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa.+ Khi bà cụ Tứ về thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.* Sáng hôm sau khi tỉnh dậy+ Tràng nhận thấy sự thay đổi kì lạ của ngôi nhà sân vườn, ang nước, quần áo, ..., Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.+ Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới. Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi Nhận xét Từ khi nhặt được vợ nhân vật đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái Kết bài- Nêu suy nghĩ về nhân vật Khái quát giá trị nghệ thuật xây dựng nhân vật đặt nhân vật vào tình huống éo le, độc đáo để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tích cách; miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ bình dị, gần Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc, phản ánh chân thực tình cảnh người nông dân trong nạn đói, mặt khác cũng phản ánh bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của ý cảm nhận về nhân vật Tràng trong Vợ Nhặt - Mẫu số 41. Mở bài- Giới thiệu khái quát về tác giả – tác phẩm –nhân vật Tràng- Tác giả Nhắc tới nhà văn Kim Lân là nhắc tới ông hoàng của thể loại truyện ngắn. Ông viết về con người và cuộc sống ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng Tác phẩm “Vợ nhặt” là truyện ngắn độc đáo, in trong tập “Con chó xấu xí”.- Nhân vật Tràng Qua tác phẩm, nhân vật Tràng đã để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu Thân bàia Nội dung phân tích* Gia cảnh, ngoại hình, tính cách nhân vật Tràng- Là người lao động nghèo, tốt bụng và cởi mở giữa lúc đói, anh sẵn lòng đãi người đàn bà xa lạ- Tràng là nhân vật có bề ngoài thô, xấu, thân phận lại nghèo hèn, mắc tật hay vừa đi vừa nói một mình, là dân ngụ cư, lại đang sống trong những ngày tháng đói khát nhất nạn đói Ở Tràng luôn khát khao hạnh phúc và có ý thức xây dựng hạnh phúc.* Tình huống truyện Tràng “nhặt” được vợ- Chi sau hai lần gặp gỡ và cho ăn 4 bát bánh đúc, vài câu nói nửa đùa nửa thật. Câu “nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” đã ẩn chứa niềm khát khao tổ ấm gia đình. Người đàn bà xa lạ đã đồng ý theo Tràng về làm vợ+ Lúc đầu Tràng cũng cảm thấy lo lắng “chợn nghĩ” Thóc…đèo bòng”.+ Sau đó Tràng đã “Chậc, kệ” và Tràng đã “liều” đưa người đàn bà xa lạ về Trên đường đưa vợ về xóm ngụ cư cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới. Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ Khi về tới nhà Tràng cảm thấy lúng túng, chưa tin vào sự thật mình đã có vợ. Đó là niềm hạnh Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ lại vừa hợp lí. Qua đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật.* Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Tràng trong buổi sáng sau ngày hắn nhặt được Sáng hôm sau Tràng dậy muộn “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Việc hắn có vợ đến lúc ấy hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không Lần đầu tiên người đàn ông nghèo khổ ấy nhận ra rằng ngôi nhà chính là tổ ấm, một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Tràng đã trở nên sâu sắc hơn rất nhiếu sau khi anh có Trong bữa cơm gia đình đầu tiên từ khi có vợ Tràng vâng dạ với bà cụ Tứ “rất ngoan ngoãn”. Thái độ đó của anh góp phần tạo lên một không khí đầm ấm hòa hợp của một gia đình thực Đúng lúc ấy, ngoài đình vang lên một hồi trống dồn dập. Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi điều gì đó. Có lẽ hắn nghĩ đến những người đi phá kho thóc Nhật…* Đặc sắc nghệ thuật- Tóm lại, nhân vật chính của câu chuyện nhặt được vợ – Tràng đã được Kim Lân khắc họa một cách sinh động qua nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật trong tác phẩm của Cách dựng tình huống truyện độc Kết bài- Tổng kết nội dung phân Nêu cảm ý cảm nhận về nhân vật Tràng trong Vợ Nhặt - Mẫu số 51. Mở bài- Giới thiệu về tác giả Kim Lân và truyện ngắn Đôi nét về nhân vật Tràng cùng những phẩm chất cao Có thể đi từ hình tượng người nông dân => Dẫn đến nhân vật Tràng trong Vợ Thân bài- Xuất thân nghèo khó và hoàn cảnh éo le của nhân vật Tràng Dân ngụ cư, công việc chỉ đẩy xe bò, sống cùng mẹ già- Ngoại hình của nhân vật Tràng Xấu xí, thô kệch, là nông dân bình dị không có gì đặc biệt- Tràng là một nhân vật có tính cách nhân hậu và cởi Nhân vật Tràng là người có ý thức và khát khao về hạnh Phân tích tình huống nhặt được vợ- Phân tích diễn biến tâm lý của Tràng khi nhặt được vợ3. Kết bài- Nêu những suy nghĩ chung về nhân vật Tràng trong tác Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc. Đồng thời tác phẩm này cũng phản ánh chân thực bản chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt của những người nông đây là Dàn ý cảm nhận về nhân vật Tràng trong Vợ Nhặt do Top lời giải sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!
Xem chi tiết hướng dẫn lập dàn ý phân tích nhân vật Tràng, gợi ý cách làm, phân tích đề, sơ đồ tư duy kèm một số bài văn mẫu tham khảo hay phân tích nhân vật anh cu Tràng trong tác phẩm Vợ Nhặt Kim Lân.Bạn đang xem Luận điểm bài vợ nhặtCùng tham khảo ngay…Hướng dẫn lập dàn ý phân tích nhân vật Tràng1. Phân tích đề– Kiểu bài dạng bài phân tích nhân vật trong tác phẩm văn học.– Vấn đề nghị luận hoàn cảnh, tính cách, phẩm chất của nhân vật Tràng– Phạm vi dẫn chứng, tư liệu các căn cứ, hình ảnh, chi tiết, câu nói… thuộc phạm vi văn bản Vợ nhặt của Kim Lân, chủ yếu là các tình tiết xoay quanh nhân vật Tràng.– Phương pháp lập luận chính phân Xác lập luận điểm, luận cứ– Luận điểm 1 Khái quát số phận, cảnh ngộ nhân vật Tràng+ Hoàn cảnh gia đình+ Hoàn cảnh bản thân– Luận điểm 2 Vẻ đẹp tâm hồn Tràng qua tâm trạng và hành động+ Gặp gỡ và quyết định nhặt vợBạn đang xem Dàn ý phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt+ Trên đường về+ Khi về đến nhà+ Sáng hôm sau khi tỉnh dậy3. Sơ đồ tư duySơ đồ tư duy phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt4. Chi tiết dàn ý phân tích nhân vật Tràng Vợ Nhặta Mở bài– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm+ Kim Lân là cây bút viết truyện ngắn chuyên nghiệp, ông tập trung viết về cảnh nông thôn, hình tượng người nông dân lao động.+ Truyện ngắn đặc sắc Vợ nhặt viết về những người nông dân trong nạn đói năm 1945– Giới thiệu nhân vật Tràng Tràng là hình tượng đại diện cho số phận của những người nông dân giai đoạn Thân bài* Khái quát số phận, cảnh ngộ của Tràng– Hoàn cảnh gia đình là dân ngụ cư bị khinh bỉ, cha mất sớm, kiếm sống bằng nghề đánh xe bò nuôi mẹ già, nhà ở tồi tàn, cuộc sống bấp bênh,… -> Nạn nhân của nạn đói bị đẩy đến miệng vực của cái chết.– Hoàn cảnh bản thân+ Ngoại hình thô kệch dáng người vập vạp, thân hình to lớn, tấm lưng to rộng như lưng gấu, hai con mắt nhỏ tí, gà gà quai hàm bạnh ra, cái đầu trọc, dáng đi chúi về phía trước.+ Tính cách thô mộc, ngộc nghệch gần gũi, thân thiết với dân làng và trẻ nhỏ, hay bông đùa với lũ trẻ con rồi ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch…, đôn hậu, vui vẻ, tốt bụng, thường nói cộc lốc, ngắn gọn thiếu tình cảm, không biết an ủi, chia sẻ.* Vẻ đẹp tâm hồn Tràng qua tâm trạng và hành động+ Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ– Lần gặp 1 Lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không có tình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình.– Lần gặp 2+ Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả gì -> Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng.+ Khi người đàn bà quyết định theo mình về Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”.-> Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc, thương yêu người cùng cảnh ngộ.+ Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ -> Sự nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy vợ.+ Trên đường về+ Vẻ mặt “có cái gì phơn phởn khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”,… -> Tâm trạng hạnh phúc, hãnh diện.+ Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa.+ Khi về đến nhà+ Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà -> Hành động ngượng nghịu nhưng chân thật, mộc mạc.+ Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.+ Sốt ruột chờ mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ -> Biểu hiện của đứa con biết lễ nghĩa.+ Khi bà cụ Tứ về thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.+ Sáng hôm sau khi tỉnh dậy+ Tràng nhận thấy sự thay đổi kì lạ của ngôi nhà sân vườn, ang nước, quần áo,…, Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.+ Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới. Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới.=> Từ khi nhặt được vợ, nhân vật Tràng đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.=> Tràng là người có niềm tin, niềm lạc quan, khao khát mãnh liệt về hạnh phúc tổ ấm gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ đùm bọc nhau để vượt lên tất cả, bất chấp cả cái đói và cái chết.* Đặc sắc nghệ thuật xây dựng nhân vật– Đặt nhân vật vào tình huống éo le, độc đáo để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tích cách– Miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ bình dị, gần Kết bài– Khái quát lại vẻ đẹp và ý nghĩa của nhân vật Tràng trong tác phẩm.– Nêu suy nghĩ của cá nhân về nhân vật.» Tham khảo những bài văn hay tuyển chọn phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ NhặtBài văn mẫu tham khảo phân tích nhân vật Tràng Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Tác phẩm đã dựng lên cuộc đời, số phận của người dân Việt Nam trong năm 1945 với nạn đói khủng khiếp khi hơn hai triệu người chết đói. Và tất cả đã được phản ánh đầy đủ thông qua nhân vật Tràng – nhân vật trung tâm của tác vật Tràng có hoàn cảnh, số phận bi đát, đáng thương tiêu biểu cho số phận của những người nông dân trước năm 1945. Nhà văn Kim Lân đã phác họa một vài nét về ngoại hình của nhân vật quai hàm bạnh ra, dáng đi ngật ngưỡng, lưng to bè như lưng gấu. Tuy chỉ là vài nét nhưng lại cho thấy sự quê mùa, thô kệch, xấu xí ở hình dáng của nhân vật này. Đồng thời hình dáng nhân vật cũng in đậm dấu ấn nghề nghiệp, quanh năm phải gồng mình kéo xe, nên dáng người thô kệch, gương mặt trở nên lam lũ, khắc dù là một người trưởng thành, nhưng tính cách của Tràng còn vương lại rất nhiều nét hồn nhiên, thậm chí ngờ ngệch của trẻ con. Tràng thường xuyên trêu đùa với lũ trẻ, rồi ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch. Ngoài ra, gia cảnh của Tràng cũng hết sức khốn khổ. Cha mất, chỉ còn lại hai mẹ con Tràng sống với nhau, ngôi nhà nơi hai mẹ con ở dúm dó, siêu vẹo và mảnh vườn lổn nhổn đầy cỏ dại. Không chỉ vậy, Tràng còn là dân ngụ cư, thường bị mọi người coi thường, khinh rẻ, không được phân chia ruộng đất, không được sinh hoạt cùng cộng đồng. Bằng cái nhìn đầy cảm thương, Kim Lân đã ghi lại hình ảnh lam lũ, vất vả của Tràng. Từ tính cách cho đến gia cảnh, nghề nghiệp cho thấy Tràng hội tụ đầy đủ nguy cơ ế người hội tụ đầy đủ nguy cơ ế vợ như Tràng nhưng lại lấy được vợ hết sức nhanh chóng, chỉ qua hai lần gặp gỡ. Lần đầu, Tràng kéo xe thóc liên đoàn lên tỉnh, Tràng chỉ hát mấy câu vu vơ “Muốn ăn cơm trắng mới giò/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”. Nhưng câu hò đã nhắc đến miếng ăn, vô tình tác động mạnh đến người đàn bà đã bị bỏ đói lâu ngày, bởi vậy, thị đã ton ton chạy lại đẩy xe bò với Tràng. Lần thứ hai, chỉ mất bốn bát bánh đúc và một câu nói đùa “Này, nói đùa chứ, có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Từ giây phút đó Tràng chính thức có một người vợ. Câu chuyện Tràng lấy vợ quả là một câu chuyện bi hài. Hài là ở chỗ Tràng lấy được vợ quá đỗi nhanh chóng dễ dàng. Bi là ở chỗ nạn đói đang hoành hành, Tràng còn chưa lo nổi thân mình, lại đi đèo bòng thêm một người khác, không chỉ vậy, đám cưới là sự kiện quan trọng của đời người lại diễn ra hết sức qua loa, chóng dù sự kiện Tràng lấy vợ diễn ra vô cùng chóng vánh, không có sự chuẩn bị chu đáo, nhưng lại có tác động rất mạnh, khiến cho Tràng có sự thay đổi toàn diện. Trước hết là sự thay đổi tâm lí. Sau khi cô vợ nhặt cùng Tràng về nhà, tâm lí Tràng có sự biến đổi liên tục, đi từ ngạc nhiên đến sung sướng, hạnh phúc, choáng ngợp. Tràng ngạc nhiên bởi không ngờ câu nói đùa của mình, lại khiến người đàn bà kia theo Tràng về thật. Tràng bất giác lo sợ, vì bản thân còn chưa lo xong, lại đèo bòng thêm một người nữa, trong hoàn cảnh nạn đói đang diễn ra tràn lan. Nhưng niềm vui sướng ngập tràn, đã choán lấy tâm chí Tràng, khiến Tràng quyết định bỏ ra hai hào mua dầu về thắp với tâm niệm “Vợ viếc gì thì cũng phải sáng sủa một tí chứ”. Câu nói có phần quê kệch nhưng lại cho thấy sự tôn trọng của Tràng với vợ, đồng thời hành động đó còn mang ý nghĩa thắp lên niềm tin, hi vọng vào tương lai. Sự xuất hiện của người vợ, đã đem đến cho cuộc sống của Tràng những màu sắc mới mẻ, tương vui cùng với đó là cả niềm tin, hi vọng vào tương chỉ vậy, Tràng còn có sự thay đổi về tính cách. Trước hết là trong cách ứng xử với lũ trẻ, nếu thường ngày Tràng là bạn của chúng, thì hôm nay khi về cùng cô vợ nhặt, Tràng đã nghiêm nét mặt, tỏ vẻ không hài lòng với chúng. Sự vô tâm, vô tính hàng ngày biến mất thay vào đó là dáng điệu của một người đàn ông trưởng thành. Sự thay đổi lớn lao nhất chính là khi Tràng giới thiệu vợ với mẹ. Tràng đã giới thiệu vô cùng trang trọng “Nhà tôi đó mới về làm bạn với tôi đây u ạ”, “Chúng tôi phải duyên, phải kiếp với nhau… chẳng qua nó cũng là cái số cả…”. Ai có thể ngờ rằng một con người quê mùa, cục mịch, ít học lại có thể nói ra những lời sâu sắc, ý nghĩa đến vậy. Tràng đã bỏ qua cái chóng vánh của cuộc hôn nhân, để tránh sự xấu hổ cho cô vợ. Dùng những lời lẽ trang trọng nhất duyên số, kiếp để lí giải cho việc lấy vợ của mình. Câu nói tuy giản dị nhưng cho thấy sự trưởng thành trong suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật này, Tràng đã là một người đàn ông thực thay đổi toàn diện và có ý nghĩa nhất trong suy nghĩ và tính cách của Tràng được thể hiện trong buổi sáng đầu tiên khi Tràng có vợ. Sự sung sướng hạnh phúc của người đàn ông có vợ “êm ái, lửng lơ như vừa bước từ giấc mơ ra”. Cùng với đó là sự thay đổi bất ngờ, nhanh chóng, Tràng nhận thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình, vun vén hạnh phúc cho tổ ấm của mình. Tràng không chỉ dừng lại ở việc biết lo lắng cho mình, mà còn biết lo lắng cho người khác, không còn sống qua quýt tạm bợ, mà biết lo nghĩ cho tương cùng là sự thay đổi trong nhận thức. Cuối tác phẩm hình ảnh lá cờ đỏ phấp phới, cùng sự kiện phá kho thóc nhất, để lại trong Tràng nỗi ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, trước đó Tràng hoang mang, sợ hãi. Điều này cho thấy trong Tràng có sự thay đổi nhận thức, việc đi theo Đảng, cách mạng như một hệ quả tất yếu để đem lại tự do cho bản thân, và tương lai tốt đẹp cho cả gia đã được nhà văn Kim Lân đặt trong tình huống truyện độc đáo nhặt được vợ, qua đó khắc họa tính cách, tâm lí nhân vật. Nghệ thuật phân tích, miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tự nhiên, hợp lí. Ngôn ngữ tự nhiên, nhuần nhuyễn, giản thêm Cách Rút Gọn Biểu Thức A I, Lý Thuyết Rút Gọn Biểu ThứcBằng ngòi bút phân tích tâm lí bậc thầy, ngôn ngữ giản dị mà điêu luyện, Kim Lân đã khắc họa thành công nhân vật Tràng. Nhân vật đã vẽ nên chân thực cuộc sống của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945. Đồng thời cũng thể hiện sự cảm thông, tin yêu của Kim Lân với số phận những người nông dân bất hạnh vào tương lai tươi sáng của tầm và tuyển chọn Văn mẫu lớp 12 hay nhất / THPT Sóc TrăngCác bạn vừa tham khảo mẫu dàn ý chi tiết phân tích nhân vật Tràng cùng bài văn mẫu do THPT Sóc Trăng tổng hợp và biên soạn giúp em nắm được cách làm bài và mở rộng vốn từ ngữ thêm đa dạng, phong phú hơn. Đừng quên còn rất nhiều những bài văn mẫu hay lớp 12, những nội dung hướng dẫn hữu ích giúp bạn học tốt môn Văn tại đang chờ các em khám phá ! Chúc các em học tốt !
luận điểm bài vợ nhặt